Ký ức từ một bức ảnh

Chủ Nhật, 17/02/2019, 22:29 [GMT+7]
.
.

Kỷ niệm 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, tôi lại bồi  hồi nhớ đến những ngày thanh xuân sôi nổi. Nhìn bức ảnh trưng bày trong Nhà Truyền thống của Công ty Cổ phần Than Hà Lầm – Vinacomin và trong các cuốn  Kỷ yếu của Công ty, tôi rất xúc  động. 

Người đội mũ cối, mặc quân phục tay chống sườn ở ngoài cùng bên phải là tôi, khi đó 21 tuổi. Tấm ảnh này do ông Phạm Toại, cán bộ Phòng Thi đua – Tuyên truyền của mỏ (lúc đó Hà Lầm gọi là mỏ) chụp bằng máy ảnh Đức (Zen Ka) phim đen trắng. Ảnh được chụp ngày mùng 7 Tết Kỷ Mùi 1979, khi chưa xảy ra chiến tranh biên giới. Lúc ấy tôi còn là một chàng trai trẻ chưa lập gia đình.

1
Cựu chiến binh Nguyễn Đình Thái, tác giả bài viết (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội trực chiến. Ảnh tư liệu của Công ty Than Hà Lầm.

Ảnh chụp trong một buổi huấn luyện thao tác bắn máy bay tầm trung. Người đang hướng dẫn là Đại đội trưởng Đào Đình Lâm cùng Chính trị viên Hoàng Thanh Ngọc, Trung đội trưởng Chu Ngọc Lân, Bùi Công Hưng,… cùng các pháo thủ nam nữ tuổi 19 – 20 chúng tôi.

Anh Lâm đã từng chỉ huy khẩu đội tự vệ mỏ bắn rơi 1 chiếc máy bay AD – 4 của Mỹ, tháng 4/1972. Lúc ấy còn có ông Nguyễn Hoàng Thuyết, Chính ủy Sư đoàn tự vệ Than đến thị sát trận địa. Sau này ông Thuyết được Trung ương chỉ định làm Bí thư Đặc khu ủy  Vũng Tàu – Côn Đảo.

Đại đội chúng tôi có trên 40 chiến sĩ nam nữ và đều chưa xây dựng gia đình. Chúng tôi được phiên chế vào đại đội nghiệp vụ, vũ khí là 4 khẩu  pháo phòng không 37mm 2 nòng mới tinh do Liên Xô chế tạo và bố trí thành 4 khẩu đội thuộc Tiểu đoàn pháo binh. Các đại đội  khác có đại đội pháo 100mm phòng thủ bờ biển của Phân xưởng Cơ điện do Đại đội trưởng Nguyễn Văn Dạn chỉ huy. Trung đội 14,5mm của Phân xưởng Thông gió – Nhà đèn do Trung đội trưởng Đào Trọng Vường chỉ huy cùng các đại đội thông tin, tiểu đoàn bộ binh khác hợp thành Trung đoàn Tự vệ mỏ do Trung đoàn trưởng – Giám đốc mỏ Nguyễn Đình Đồng và Chính ủy – Bí thư Đảng ủy mỏ Nguyễn Văn Cúc, sau là ông Phạm Văn Bình chỉ huy. Đại đội chúng tôi phân mỗi kíp trực 8 tiếng và bố trí 3 ca như công nhân sản xuất. Lực lượng trực chiến là chiến sĩ nam thuộc Phòng Lao động tiền lương, Kế hoạch và Phòng Kế toán chúng tôi.

Các chiến sĩ nữ thuộc Phòng KCT (phòng kiểm tra chất lượng than). Chúng tôi vừa trực chiến vừa lo chuyên môn, nghiệp vụ bằng cách trực chiến ban ngày, ban đêm  về cơ quan làm việc chừng 4 tiếng, còn các chiến sĩ nữ Phòng KCT thoát ly hẳn sản xuất trực 24/24 giờ, ăn nghỉ trên trận địa. Sau này có 2 đôi yêu nhau và lập gia đình nhờ… chiến tranh, trong đó có anh chị Vường – Kim bên B 14.5, Quyên – Ca bên C 37.

Chúng tôi đưa pháo lên trận địa vào trung tuần tháng 11/1978 theo kế hoach phòng thủ của Bộ Tư lệnh Quân khu Ba  và sau này là Bộ Tư lệnh Đặc khu Quảng Ninh do ông Nguyễn Đức Tâm, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh làm Chính ủy và Trung tướng Sùng Lãm làm Tư lệnh.

Lực lượng hợp thành lưới phòng không có trung đội 14,5mm của trung đội trưởng Đào Trọng Vường, đại đội 37 mm của chúng tôi và D 183 tên lửa của F369 thuộc BTL Phòng không – Không quân. Chỉ huy sở của F 369 đặt tại phường Hà Trung (lúc đó thuộc phường Hà Lầm) do Anh hùng LLVT, đại tá Nguyễn Văn Phiệt làm Sư đoàn trưởng. B14,5 có nhiệm vụ đánh máy bay tầm thấp, C37 chúng tôi đón bắn máy bay tầm trung và D183 đón máy bay tầm cao cùng không quân.

Hệ thống phòng không liên hoàn cùng C100 bờ biển phối hợp tác chiến với các lực lượng tự vệ của Xí nghiệp Tuyển than Hòn Gai, Xí nghiệp Xây lắp mỏ Hòn Gai, Trung đoàn Tự vệ mỏ Hà Tu… lập thành một hệ thống chiến đấu bảo vệ thị xã Hòn Gai từ đèo Bụt đến Bãi Cháy, Hoành Bồ là một hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp với các vũ khí, khí tài hiện đại.

Trận địa chúng tôi ở một vị trí rất đẹp và… nên thơ. Các nòng pháo đều quay về hướng bắn 34 nhìn ra vịnh Hạ Long, phía đông nam. Nếu cần thiết có thể hạ nòng pháo bắn thẳng vào tàu chiến rất thuận lợi mà địch không thể nào bắn trả lại được.

Trận địa chúng tôi ở giữa B14,5 và D183. Chúng tôi có thể gọi to, trêu đùa, hát hò đối đáp với các nữ chiến sĩ bên B14,5. Về hậu cần thì có “cô nuôi” Lê Thị Bùi, gánh thực phẩm từ nhà ăn lên nấu ăn tại trận địa. Tôi và vài cựu chiến binh nữa còn trổ tài đào bếp Hoàng Cầm y như thời ở rừng vậy nhưng chất đốt không là củi mà lại là… than do xe của mỏ chở lên, các nữ chiến sĩ nắm than để đun nên ít khói.

Ngoài bữa ăn chính, các chiến sĩ còn được mỏ bỗi dưỡng chế độ 3 hào/suất ca 1, ca 2 quy ra là bánh ngọt, bánh nướng. Trực chiến ca 3 thì được bồi dưỡng 4 hào 5 xu, cứ 2 ngày trực chiến ca 3 thì được lĩnh 1 hộp sữa đặc có đường nhãn hiệu “Con Chim” hay  “Ông Thọ”.

Sau những ngày trực chiến, tôi mang về biếu bố mẹ, ông bà ở quê hàng thùng sữa hộp và bánh nướng mậu dịch đã cứng như nắp hầm phòng không, có thể kê… chân giường. Các lán trú quân đều làm từ gỗ trụ mỏ, lợp bằng ống quạt gió lò tráng cao su do Liên Xô sản xuất. Giường phản nằm đều ghép bằng gỗ hòm mìn mỏ rất chắc chắn, thơm mùi dầu gỗ thông Liên Xô. Các trò đánh tu lơ khơ “tiến lên” bôi “râu” đầy mặt bằng nhọ nồi tạo nên những trận cười vui. Không còn chỗ trống trên mặt để bôi “hề” thì đội mũ sắt, đeo vỏ hòm đạn hay đút vỏ đạn 37 vào ba lô đeo…

Bốn chục năm đã trôi qua. Nhiều cán bộ, chiến sĩ ngày ấy đã qua đời nhưng tô vẫn nhớ lắm về họ và một thời tuổi trẻ sôi nổi, vất vả nhưng đầy ắp niềm vui. Những kỷ niệm lại ùa về cay xè khóe mắt tuổi lục thập. Những kỷ niệm ấy còn theo mãi chúng tôi, những chiến sĩ tự vệ mỏ một thời đã góp một phần sức trẻ bảo vệ sự bình yên cho Vùng mỏ thân yêu.

Nguyễn Đình Thái (CTV)
 

.
.
.
.
.
.
.
.