Chú trọng bảo tồn thiên nhiên

Chủ Nhật, 10/06/2018, 08:20 [GMT+7]
.
.

Tỉnh Quảng Ninh có đa dạng các kiểu địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, làm cơ sở hình thành tính đặc hữu, đa dạng các hệ sinh thái, đa dạng sinh học không chỉ ở cấp quốc gia mà còn ở cấp khu vực và toàn cầu. Do đó, việc bảo vệ và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường của tỉnh và quốc gia.

Đa dạng sinh học thường được giải thích là sự phong phú của rất nhiều loài thực vật, động vật và vi sinh vật. Hiện nay, Quảng Ninh có các loài sinh vật đa dạng với các thứ bậc khác nhau, cụ thể gồm: Toàn tỉnh có 4.350 loài, 2.236 chi, 721 họ thuộc 19 ngành, 3 giới động vật, nấm và thực vật. Trong số đó, đã ghi nhận được 182/tổng số 4.350 loài (4,18%) thuộc các bậc khác nhau là đặc hữu; 154/tổng số 4.350 loài (3,54%) được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, 56 loài có tên trong Danh mục của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 72 loài có tên trong Danh mục đỏ IUCN. Các loài nguy cấp, quý hiếm, đặc hữu phân bố tập trung chủ yếu tại các hệ sinh thái được bảo vệ nghiêm ngặt, trong các khu bảo tồn thiên nhiên.

Người dân cùng Ban quản lý Vường quốc gia Bái Tử Long tham gia hoạt động làm sạch biển tại đảo Minh Châu hưởng ứng Tuần lễ biển và hải đảo. ( Ảnh Lương Giang)
Người dân cùng Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long tham gia hoạt động làm sạch biển tại đảo Minh Châu hưởng ứng Tuần lễ biển và hải đảo. Ảnh: Lương Giang

Toàn tỉnh hiện có 3 khu bảo tồn thiên nhiên và 1 Di sản thiên nhiên thế giới. Đó là: Vườn quốc gia Bái Tử Long - Vườn di sản ASEAN, có diện tích bảo tồn 15.283ha, nằm trên địa phận ranh giới hành chính huyện Vân Đồn, do Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long quản lý. Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng có diện tích 15.593,81ha, nằm trên địa phận ranh giới hành chính huyện Hoành Bồ, do Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng quản lý. Khu rừng quốc gia Yên Tử có diện tích 2.783ha nằm trên địa bàn 2 xã là Thượng Yên Công và Phương Đông của TP Uông Bí, do Ban Quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử quản lý.

Riêng Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, diện tích quy hoạch là 1.553km2, trong đó: Khu vực di sản thế giới có diện tích 434km2, nằm ở trung tâm Vịnh Hạ Long, gồm 775 hòn đảo có giá trị cảnh quan và khoa học.

Việc quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực Di sản do Ban Quản lý vịnh Hạ Long thực hiện và được tỉnh đặc biệt chú trọng. Theo đó, Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã phối hợp nghiên cứu, thực hiện nhiều đề tài, chuyên đề nghiên cứu khoa học như phối hợp với Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện đề tài “Điều tra bổ sung, đánh giá đa dạng thực vật bậc cao có mạch và tìm kiếm các loài thực vật có chứa hoạt tính sinh học tại các đảo Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp bảo tồn, sử dụng bền vững”... Các kết quả nghiên cứu tương đối đầy đủ và rõ ràng đã khẳng định Vịnh Hạ Long là một khu vực có đa dạng sinh học cao với 10 hệ sinh thái điển hình của vùng biển đảo nhiệt đới, gần 3.000 loài động vật, thực vật có mặt ở khu vực này. Trong số đó, đã xác định được 102 loài động, thực vật được ghi trong sách đỏ đang bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau và 17 loài thực vật đặc hữu của khu vực. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu nhân giống và trồng bảo tồn một số loài có giá trị tiêu biểu thành công đã tạo được các vườn cây mang giá trị bảo tồn cao như: Vườn cọ Hạ Long, vườn bông mộc, vườn cây ăn quả cho khỉ vàng.

g
Hệ sinh thái tùng - áng và hệ sinh thái hang động được coi là có giá trị nổi bật của các hệ sinh thái Vịnh Hạ Long. Ảnh: Hùng Sơn

Ưu tiên nguồn lực bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản (như trụ sở làm việc, hệ thống vườn ươm, phòng thí nghiệm, trung tâm cứu hộ, bảo tàng, cơ sở hạ tầng cho phòng cháy chữa cháy rừng, đê và các hạng mục bảo vệ đê điều...), trang sắm trang thiết bị (phương tiện: Ô tô, tàu công tác; quân phục, máy móc và thiết bị đo, phân tích hiện trường; máy móc và trang thiết bị thí nghiệm trong phòng...) phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy, hải sản; bảo tồn đa dạng sinh học.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Thu, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, cho biết: Các hệ sinh thái của tỉnh rất phong phú và đa dạng, tuy nhiên các hệ sinh thái này hiện nay cũng đang đối mặt với nhiều thách thức, chủ yếu từ các hoạt động kinh tế xã hội của con người và những biến động của sự thay đổi khí hậu của trái đất. Diện tích rừng tự nhiên đang có chiều hướng suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Môi trường biển cũng đang bị tác động bởi các hoạt động khai thác hải sản và ô nhiễm môi trường do một số hoạt động kinh tế. Chính vì vậy, việc quản lý, bảo tồn và hợp tác quốc tế trong quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những lĩnh vực được tỉnh quan tâm ưu tiên thúc đẩy. Tỉnh đã phối hợp với các tổ chức quốc tế như: Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế, Tổ chức JICA (Nhật Bản); Viện Động vật Xanh Pê-téc-bua (Nga); Vườn thú Cologne (Cộng hòa liên bang Đức) thực hiện nhiều dự án điều tra nghiên cứu loài sinh vật tại khu bảo tồn trong tỉnh; hỗ trợ nghiên cứu nhân nuôi các loài sinh vật quý hiếm, có giá trị của tỉnh…

Có thể khẳng định, bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì tính toàn vẹn của hệ sinh thái chính là giúp con người giảm nhẹ được những tác động của thiên tai và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây không chỉ là trách nhiệm của các nhà khoa học, các nhà quản lý mà là trách nhiệm của mỗi công dân. Do đó, việc tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ đa dạng sinh học, tạo bước chuyển biến mới về chất lượng và hiệu quả trong công tác quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cần được quan tâm hơn nữa.

Thanh Phong

Ý kiến người trong cuộc:

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ Tài nguyên và Môi trường): “Cần phát triển các ngành kinh tế hướng đến tăng trưởng xanh”

Các giá trị của vùng biển đảo Quảng Ninh cung cấp tiềm năng bảo tồn biển rất cao và tạo tiền đề, lợi thế cho phát triển các ngành kinh tế biển, nhất là kinh tế biển dựa vào bảo tồn thiên nhiên. Từ năm 2015, tôi đã đề xuất vùng biển có quần thể đảo đá vôi thuộc các Vịnh Bái Tử Long, Hạ Long kéo tới vùng biển quần đảo Cát Bà và Long Châu, Đầu Bê là "Vùng biển quan trọng về mặt sinh thái và sinh học" (EBSA) trong khuôn khổ Công ước Đa dạng sinh học (CBD, 1994). Đây là "Vùng biển đặc biệt nhạy cảm" (PSSA) đối với hoạt động hàng hải quốc tế, nghĩa là các tàu quốc tế qua lại phải không làm ảnh hưởng đến những giá trị quốc gia và toàn cầu của khu vực biển này. Thêm nữa, các hoạt động khai thác không được làm phù sa bồi lấp, không nối các đảo thành một khối núi ven biển, không được phá vỡ chức năng tự nhiên của các hệ sinh thái quan trọng trong vùng làm mất cân bằng sinh thái dưới đáy biển, ảnh hưởng đến tiềm năng của các ngành kinh tế, hướng tới tăng trưởng xanh.
 

Ông Ngô Ngọc Hải, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam: “Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học vùng”

Thực hiện chương trình điều tra đa dạng sinh học, bảo tồn sinh cảnh, bảo tồn loài, chúng tôi đã phối hợp với Ban Quản lý Vịnh Hạ Long thực hiện nghiên cứu về loài thạch sùng mí ở Vịnh Hạ Long. Đây là loài đặc hữu, quý hiếm, có trong Sách đỏ của thế giới, trước phân bố chủ yếu ở Cát Bà. Các nghiên cứu ban đầu đánh giá đa dạng sinh học, sau đó nghiên cứu chuyên sâu hơn về sinh thái, bảo tồn, đánh giá các yếu tố tác động, thành phần loài nguy cấp… Từ đó, chúng tôi xây dựng các chương trình bảo tồn. Trước đây, chúng tôi cũng đã có cách làm, nghiên cứu tương tự về thực vật ở Vịnh Hạ Long. Đây là hoạt động cần thiết, từ đó kết hợp chương trình thiết kế poster, giới thiệu về loài, nâng cao nhận thức về giá trị đa dạng sinh học, thực hiện bảo tồn, bảo vệ loài, đa dạng sinh học của vùng.
 

Bà Nguyễn Thu Huệ, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) - Hà Nội: “Nâng cao nhận thức để bảo vệ đa dạng sinh học và môi trường biển”

Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng huy động các nguồn lực, các hỗ trợ của Nhà nước, nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ thực hiện nhiều chương trình ở các vùng ven biển Quảng Ninh, Vịnh Hạ Long. Trong đó, chú trọng tới bảo vệ môi trường biển, bảo vệ, bảo tồn sinh vật biển. Dự án tập trung vào giáo dục tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thay đổi hành động. Ngoài cung cấp các kiến thức khoa học phổ thông, chúng tôi quan tâm đến các hoạt động thực tế ở những vùng nhạy cảm, có nguy cơ tổn thương về đa dạng sinh học, môi trường biển. Đồng thời, đào tạo thế hệ kế cận để duy trì hoạt động khi đã kết thúc dự án. Thay đổi nhận thức, thay đổi thái độ, thay đổi hành động đó chính là hiệu quả các dự án: Nuôi thủy, hải sản bền vững, Dự án con thuyền mơ ước mà chúng tôi đã thực hiện.
 

Ông Phạm Xuân Phương, Trưởng phòng Bảo tồn biển, đất ngập nước, Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long: “Hệ sinh thái đất ngập nước ở Quảng Ninh có giá trị rất to lớn”

Vườn quốc gia Bái Tử Long với hệ sinh thái rừng và hệ sinh thái biển đã tạo nên cảnh quan độc đáo, kết hợp với hệ thống hang động, các tùng áng trong các dãy núi đá vôi và những dấu tích lịch sử văn hóa thuộc nhiều niên đại khác nhau có sức hấp dẫn đối với du khách. Ở vùng biển Bái Tử Long có nhiều tùng, áng là các mẫu chuẩn điển hình của diễn thế tự nhiên, đặc biệt là các loài thuộc rừng ngập mặn, trong đó có nhiều cây hàng trăm năm tuổi, nhiều loài sinh vật cung cấp nguồn gen nguy cấp, quý hiếm cần được bảo tồn và phát triển bền vững. Chúng tôi đã và đang nỗ lực duy trì và phát triển hệ sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm thúc đẩy phát triển bền vững. Việc này càng có ý nghĩa hơn khi Quảng Ninh đang tích cực bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên, cấm đánh bắt thủy, hải sản tận diệt, phát triển kinh tế bền vững.
 

Ông Vũ Nam Phong, Chi cục phó Chi cục Biển và Hải đảo, Sở Tài nguyên và Môi trường: “Giảm ảnh hưởng đến môi trường biển”

Ở Quảng Ninh, các hệ sinh thái nối với nhau thành chuỗi liên tiếp, đã tạo ra tính đa dạng sinh học. Thời gian gần đây, Quảng Ninh đã cấm đánh bắt thủy, hải sản bằng hình thức tận diệt và đang triển khai xây dựng bộ tiêu chuẩn môi trường tương đương tiêu chuẩn châu Âu. Chúng tôi rất mừng về những bước đi quyết liệt đó. Tuy nhiên, chúng ta cần làm tốt hơn nữa việc quản lý rác thải trên biển, khuyến cáo người dân khai thác theo quy định, tuyên truyền kêu gọi bảo vệ môi trường biển bằng nhiều hình thức, bảo vệ và phát triển vườn quốc gia gắn với khai thác du lịch sinh thái. Chiến lược biển Việt Nam cũng đã chỉ rõ vai trò của kinh tế biển. Việc khai thác kinh tế biển cũng tạo điều kiện cho ngư dân Quảng Ninh bám biển, bám đảo, thêm yêu Tổ quốc.
 

Phạm Học - Tạ Quân (Thực hiện)

 

 

 

 

.
.
.
.
.
.
.
.