Nỗi buồn những bản di dân ở Quảng Đức

Chủ Nhật, 08/04/2018, 07:55 [GMT+7]
.
.

Với mục tiêu mang lại cuộc sống mới cho người dân khu vực biên giới, những năm qua, Trung ương và tỉnh đặc biệt quan tâm thực hiện các chương trình di, dãn dân. Tuy nhiên, có không ít những dự án di, dãn dân không thành công. Một trong số đó là dự án di dân các thôn, bản: Tân Đức, Cống Mằn Thìn, Khe Lánh II, đều thuộc xã Quảng Đức, huyện Hải Hà. Các khu tái định cư trở nên xác xơ, tiêu điều với những ngôi nhà bị bỏ hoang, xuống cấp nghiêm trọng trong cảnh “vườn không, nhà trống” do người dân bỏ về nơi ở cũ “một đi không trở lại”.

Tiêu điều Khe Lánh II

Bản Khe Lánh II hiện ra với những ngôi nhà bỏ hoang, tiêu điều.
Bản Khe Lánh II hiện ra với những ngôi nhà bỏ hoang, tiêu điều.

Con đường bê tông ngoằn ngoèo đầy những khúc cua đưa chúng tôi đến thôn Khe Lánh II. Khung cảnh đầu tiên mà chúng tôi nhìn thấy là những ngôi nhà cấp 4 nằm sát nhau trong tình trạng bỏ trống, xuống cấp, mái ngói sập, hư hỏng. Nhiều ngôi nhà trở thành chuồng nhốt trâu của một vài hộ dân trong bản. Phía cuối bản Khe Lánh II, khung cảnh càng trở nên tiêu điều, xơ xác khi gần chục ngôi nhà bỏ hoang, xập xệ nằm cô đơn giữa những bãi cỏ dại, xung quanh là những bãi đất trống cằn cỗi.

Sau một hồi tìm kiếm, chúng tôi mới gặp được một người duy nhất trong xóm là anh Lỷ Phu Văn. Từ trong căn bếp được dựng tạm bằng những tấm liếp, que củi ra, anh Lỷ Phu Văn dựa lưng vào cột nhà trước cửa buồn bã trò chuyện với chúng tôi: Gia đình tôi cùng với 3 hộ gia đình khác chuyển từ thôn 3, xã Quảng Thịnh, sang đây từ năm 2009 theo chương trình di dân của huyện. Khi đó, cả khu này có 10 hộ dân, nhưng đến nay chỉ còn vợ chồng tôi và một gia đình khác ở lại trong xóm. Toàn bộ các hộ dân khi chuyển đến đây đều được Nhà nước hỗ trợ cho một ngôi nhà cấp 4 nhưng không có công trình phụ, không bếp nấu ăn. Được hỗ trợ đất trồng rừng, trồng chè và cây rau màu quanh vườn nhưng nước sinh hoạt vẫn phải dùng nước bẩn lấy từ dưới suối, nói gì đến nước sản xuất. Hơn nữa, tại khu này lại không có điện. Mãi đến dịp Tết vừa rồi, 2 gia đình mới góp tiền được hơn 7 triệu đồng kéo nhờ điện từ các hộ dân ở đầu bản về để thắp sáng. Điều kiện ăn ở tạm bợ, điều kiện sản xuất không ổn định, nên chưa có hộ nào đăng ký hộ khẩu tại địa phương. Nơm nớp định cư không ổn định, thời gian đầu các hộ khi ở bản mới, khi về chỗ ở cũ, nhưng đến nay thì đã về sinh sống ở xã Quảng Thịnh, không còn trở về đây nữa.

Nhiều căn nhà nay đã trở thành chuồng nuôi, nhốt trâu của các hộ dân trong bản.
Nhiều căn nhà nay đã trở thành chuồng nuôi, nhốt trâu của các hộ dân trong bản.

Khi biết chúng tôi vào bản, anh Trưởng Quay Sàu, nhà ở đầu bản đi một chiếc xe máy cà tàng đến nhà anh Văn thiết tha mời chúng tôi về thăm gia đình anh. Trong căn nhà cấp 4 chật hẹp, đồ đạc của 4 vợ chồng, con cái nhà anh Sàu chỉ vẻn vẹn có một chiếc bàn gỗ ọp ẹp, mấy chiếc ghế nhựa, xoong nồi cùng với một chiếc giường được đóng bằng mấy tấm ván gỗ keo chất đầy chăn màn, quần áo. Dõi ánh mắt buồn rầu về phía những ngôi nhà hoang, cái bể khô không giọt nước, anh Sàu ái ngại nói với chúng tôi: Các anh xem, cả dãy nhà do Nhà nước xây dựng giờ hoang tàn hết cả. Những ngôi nhà còn mái ngói thì nay đã trở thành chuồng nhốt trâu. Có bể nhưng không bao giờ có nước. Người dân chúng tôi phải xuống suối gánh nước bẩn về ăn. Khổ nhất là trẻ con đến tuổi đi học phải ra tận trung tâm xã, cách gần chục cây số. Vợ chồng tôi có 2 con nhỏ, cháu lớn hiện nay đang gửi ở nhà ông bà ngoại ở bản Lý Nà để đi học cho đỡ vất vả. Chúng tôi rất mong Nhà nước quan tâm hơn nữa để chúng tôi có điều kiện phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống. Vào đây từ năm 2009, tôi thấy có rất nhiều đoàn đến khảo sát, kiểm tra nhưng rồi lại đi không trở lại.

Những chiếc bể được xây để chứa nước sinh hoạt cho người dân nay trơ đáy không có giọt nước nào.
Những chiếc bể được xây để chứa nước sinh hoạt cho người dân nay trơ đáy, không có giọt nước nào.

Đang mải gánh nước từ dưới suối về nhưng chị Nguyễn Thị Huệ, bản Khe Lánh II, cũng vội vã dừng quang gánh thở dài ngao ngán nói với chúng tôi: Gia đình tôi chuyển từ bản Pặc Này sang đây từ năm 2009. Cả nhà có 5 người sống trong căn nhà chật chội không bếp, không nhà vệ sinh. Đất sản xuất nông nghiệp không có, chỉ có một ít đất quanh nhà để làm vườn nhưng không có nước cũng đành bỏ hoang. Cả gia đình về Pặc Này khai hoang được mấy trăm mét vuông đất cấy lúa nhưng mỗi năm chỉ được vài bao thóc, không đủ ăn. Ngày nắng thì vợ chồng tôi đi rừng đào củ lông cu ly bán với giá 3.000 đồng/kg. Ngày mưa thì không có gì để ăn.

Các hộ dân ở xa kênh mương thì gánh nước dưới suối về ăn.
Các hộ dân ở xa kênh mương thì gánh nước dưới suối về ăn.

Mặc dù đã có thời gian được coi là “điểm sáng” của những bản di dân với cuộc sống nhộn nhịp, song giờ đây, thôn Tân Đức cũng tiêu điều không hơn gì Khe Lánh II. Từ đầu bản đến cuối bản là những dãy nhà hoang xập xệ nằm trong những lùm cây, cỏ dại um tùm. Anh Vũ Chí Quang, một trong số ít những hộ di dân từ huyện Ba Vì (TP Hà Nội) đến Tân Đức từ năm 2005, nói: Hiện nay, thôn Tân Đức chỉ còn lại 21 hộ dân trong tổng số 55 hộ dân ngày mới thành lập. Khó khăn về điều kiện sản xuất cộng với thiếu nước sinh hoạt nên các hộ dân sau khi đã hưởng chế độ, chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã bỏ về nơi ở cũ, không còn quay lại bản. Trước đây, các hộ dân trong bản dùng nước dẫn từ trên núi về bể do Nhà nước xây, nhưng do bụi từ việc khai thác đá cộng với đường ống dẫn nước bị han gỉ, tắc, nên đến nay chỉ còn 5 hộ dân trong thôn dùng nước từ nguồn này… Vừa nói, đôi mắt anh Quang vừa nhìn về phía những căn nhà hoang bị sập gần hết mái, cỏ mọc um tùm buồn xót xa.

Mong ước của người dân

Gia đình anh Trưởng Quay Sàu, bản Khe Lánh II thuộc diện hộ nghèo của xã Quảng Đức.
Gia đình anh Trưởng Quay Sàu, bản Khe Lánh II, thuộc diện hộ nghèo của xã Quảng Đức.

Mặc dù các cấp chính quyền đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các chương trình di, dãn dân, nhưng số hộ dân ở các bản này bỏ về ngày một nhiều. Được biết, từ năm 2005 đến năm 2009, thực hiện các chương trình di, dãn dân, đã có 55 hộ dân từ huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây (nay là TP Hà Nội), thôn 3, xã Quảng Thịnh và trung tâm xã Quảng Đức đến thành lập ra thôn Tân Đức; 30 hộ dân từ trung tâm xã Quảng Đức vào sinh sống tại bản Cống Mằn Thìn; 30 hộ dân từ trung tâm xã Quảng Đức và thôn 3, xã Quảng Thịnh, vào sinh sống tại bản Khe Lánh II.

Tuy nhiên đến nay, đã có 63 hộ dân từ 3 bản này trở về nơi ở cũ, không còn quay lại. Trong đó: Thôn Tân Đức có 34/55 hộ bỏ về; bản Khe Lánh có 16/30 hộ bỏ về và bản Cống Mằn Thìn có 13/30 hộ bỏ về. Theo lãnh đạo huyện Hải Hà, tình trạng người dân bỏ về, không ở lại khu tái định cư xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân. Trước hết, kết cấu hạ tầng ở các vùng định cư mới, nhất là trong các thôn, bản di dân vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn chưa được quan tâm triệt để, mới chỉ chú trọng ở những khu vực trung tâm. Việc rà soát, đánh giá thực trạng đất đai, khí hậu để xây dựng các thôn, bản có nhiều bất cập, từ đó dẫn đến quy hoạch nhà dân nằm quá xa đường giao thông, xa khu vực canh tác nông, lâm nghiệp. Mặt khác, chính sách hỗ trợ cho việc di, dãn dân tuy đã được Trung ương và tỉnh quan tâm, nhiều lần thay đổi, bổ sung, song vẫn còn ở mức thấp, chưa giải quyết được khó khăn cơ bản của các hộ đến định cư làm nhà ở, vay vốn mở rộng sản xuất. Thực trạng này đã khiến cho nhiều hộ dân muốn vay vốn làm ăn rất khó khăn do không có tài sản thế chấp. Mặt khác, việc lựa chọn dân cư đến các vùng di dân nhiều khi chưa phù hợp, chưa tạo ra căn nhà ở phù hợp với đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng của người dân.

Được biết, thực hiện chương trình di dân, các hộ dân thuộc chương trình khi đến nơi ở mới ngoài việc được Nhà nước hỗ trợ một ngôi nhà, tiền, gạo ăn, còn được hỗ trợ cây giống và 1ha chè, đất lâm nghiệp để phát triển sản xuất. Một số hộ dân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp; phần lớn các hộ chưa được cấp nhưng đến nay, các hộ dân đã trồng rừng trên đất được giao. Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri cũng như gặp mặt các bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản, các hộ dân thuộc 3 thôn, bản nói trên đã nhiều lần kiến nghị về việc thu hồi đất sản xuất của các hộ dân đã bỏ về nơi ở cũ, xem xét, giao lại cho những người dân còn ở lại để sản xuất lâu dài, ổn định cuộc sống. Hiện tại, theo phản ánh của một số hộ dân ở thôn Tân Đức, để có đất sản xuất, ươm keo giống, các hộ trong thôn vẫn phải thuê lại mặt bằng trước hiên nhà một số hộ đã bỏ về, không còn ở trong thôn.

Theo các hộ dân ở thôn Tân Đức, nhiều hộ dân phải thuê lại mặt bằng trước hiên nhà các hộ dân đã đi khỏi thôn để ươm keo giống?
Nhiều hộ dân phải thuê lại mặt bằng trước hiên nhà các hộ dân đã đi khỏi thôn để ươm keo giống.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Hoàng Văn Thái, Phó Chủ tịch UBND huyện Hải Hà, cho biết: Huyện Hải Hà đã nhiều lần kiểm tra, rà soát thực trạng tại 3 thôn, bản di dân nói trên. Thực tế là các hộ dân đã bỏ về nơi ở cũ khá nhiều. Huyện và xã Quảng Đức đã nhiều lần gửi thông báo cho các hộ dân đã bỏ về nhưng phần lớn các hộ dân này bỏ đi, không rõ địa chỉ nên không đưa được thông báo đến tận tay các hộ. Quan điểm của huyện là trên cơ sở rà soát, kiểm tra lại sẽ thu hồi tài sản, đất sản xuất của các hộ dân đã bỏ về, không ở lại vùng tái định cư trên cơ sở rà soát, kiểm tra lại và xin chủ trương, đề xuất của cấp trên.

Để chương trình di, dãn dân thực sự hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân yên tâm gắn bó với quê hương mới, thiết nghĩ, Trung ương và tỉnh cần phải có những biện pháp hiệu quả hơn trong đầu tư cũng như cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống, đồng thời, cần xem xét sao cho phù hợp với đời sống văn hóa, phong tục, tín ngưỡng của người dân. Đặc biệt, theo lộ trình của huyện Hải Hà thì năm 2019, xã Quảng Đức sẽ thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn, do đó, nếu như không có sự quan tâm đặc biệt thì người dân các thôn, bản như Tân Đức, Khe Lánh II, Cống Mằn Thìn khó có được cơ hội thoát nghèo.

Hữu Việt

 

.
.
.
.
.
.
.
.