Người CCB làm giàu ở xã đặc biệt khó khăn

Thứ Tư, 10/01/2018, 17:51 [GMT+7]
.
.

Năm nay gần 70 tuổi, phần lớn cuộc đời CCB Hoàng Văn Tương, thôn Bản Buông, xã Hà Lâu (huyện Tiên Yên) gắn bó với rừng. Ông bảo: “Cả thời kỳ trong quân ngũ (từ 1968 - 1976) tôi cũng sống chủ yếu trong rừng, tham gia chiến đấu ở Trường Sơn và nước bạn Campuchia”. Trở về địa phương ông làm Tổ trưởng Dự án Trồng rừng Việt-Đức 661 ở Hà Lâu, một thời đi phủ xanh đất trống, đồi trọc ở xã. Nay về hưu, ông Tương lại tập trung vào phát triển kinh tế từ rừng.

Cùng ông Bế Văn Hải, Chủ tịch Hội CCB xã Hà Lâu, chúng tôi vượt qua nhiều đoạn đường rừng, con suối để đến được khu trang trại của CCB Hoàng Văn Tương, nằm trong rừng thôn Bản Buông. Ông Tương nuôi trâu, bò, dê, ngan, gà, mỗi thứ từ vài chục đến vài trăm con. Ông trồng 28ha rừng với các loại keo, thông, quế... Ông bảo: “Cuộc sống của tôi cũng chẳng còn thiếu thốn gì nữa, nhưng mình muốn làm có mô hình, để bà con học tập làm theo. Bà con ở đây khi làm gì họ cũng rất ít khi tham khảo kỹ thuật trên sách, báo hay trên mạng. Thường thì cứ phải “cầm tay chỉ việc” thì bà con mới biết. Mình nuôi con gì có hiệu quả mình truyền lại kinh nghiệm cho bà con. Bà con nhìn thấy người thật, việc thật ngay trên quê mình, vậy là họ làm theo ngay”.

Nhờ tự đúc kết ra nhiều kinh nghiệm chăn nuôi nên đàn dê của CCB Hoàng Văn Tương luôn phát triển tốt
Nhờ tự đúc kết ra nhiều kinh nghiệm chăn nuôi nên đàn dê của CCB Hoàng Văn Tương luôn phát triển tốt.

Trước đây, ông Tương phụ trách Hội CCB của xã Hà Lâu suốt 20 năm cho đến lúc nghỉ chế độ. Từ cương vị này, ông có nhiều điều kiện giúp người dân xã mình phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo. Năm 1998, khi Dự án Trồng rừng Việt- Đức 661 được triển khai ở huyện Tiên Yên với mục tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có, tăng độ che phủ, góp phần đảm bảo môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, sử dụng hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc tạo thêm việc làm cho người lao động, xóa đói, giảm nghèo, các thôn, bản ở Hà Lâu đều tổ chức ra các tổ quản lý và bảo vệ rừng. Thời điểm đó, ông Tương làm Tổ trưởng Dự án Trồng rừng Việt-Đức 661 của xã. Từ kiến thức của các buổi tập huấn, ông về tiếp tục truyền đạt kinh nghiệm cho cán bộ thôn để họ truyền lại cho bà con về quản lý rừng và hướng phát triển lâm nghiệp. Do làm đúng yêu cầu kỹ thuật nên rừng Việt-Đức ở Hà Lâu có tỷ lệ sống cao đến 90%, giúp cho nhiều thôn, bản trước đây không còn rừng hay rừng nghèo cây nay đã xanh tươi, đưa dòng nước mát dồi dào đến các con suối. Các hộ tham gia Dự án trồng rừng năm xưa, phần lớn đã được xóa nghèo, có hộ trở thành hộ khá.

Mô hình chăn nuôi dưới tán rừng của ông Tương, đã cho ra sản phẩm có chất lượng được nhiều thương lái tìm đến, nên gia súc, gia cầm của ông nhiều khi không đủ bán. Những ngày đầu khởi nghiệp trên rừng, cuộc sống nhiều chật vật với việc chăn nuôi. Không khí trên rừng luôn âm u, cỏ đẫm sương, nên ban đầu do chưa có kinh nghiệm, đàn dê hay bị đau bụng. Ông Tương rút kinh nghiệm thả dê muộn hơn khi mặt trời đã lên cao khi cỏ đã khô sương. Về mùa đông hay những ngày mưa, ông cắt cỏ phơi khô rồi mới cho dê ăn. Từ cách làm này đã giúp cho đàn dê ở trang trại gia đình ông phát triển tốt. Kinh nghiệm này ông cũng truyền đạt cho nhiều bà con nghèo ở Bản Buông, giúp người dân nuôi dê hiệu quả.

Ông Hoàng Văn Tương (bên trái) đang trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế rừng với hội viên CCB thôn Bản Buông
Ông Hoàng Văn Tương (bên trái) đang trao đổi kinh nghiệm phát triển kinh tế rừng với hội viên CCB thôn Bản Buông.

Điều mà ông trăn trở nhiều năm là làm thế nào để các CCB ở Bản Buông đời sống được tốt hơn. Ông Tương thường đến gặp gỡ đồng đội, vận động họ giúp đỡ nhau. Ai có điều kiện thì giúp đỡ hội viên khó khăn về vốn, đa phần đều giúp nhau về ngày công. Khi có hội viên trồng rừng, các hội viên khác đến giúp dọn dẹp mặt bằng, cuốc hố trồng cây, hay về kỹ thuật chăm sóc cây, cứ lần lượt đổi công cho nhau người này giúp người kia. Từ cách làm đó đã giảm bớt nhiều chi phí thuê mướn ban đầu khi trồng rừng. Cũng từ đó mà tất cả 17 hội viên CCB ở Bản Buông không còn hội viên nghèo. Bản Buông cũng đã ra khỏi diện đặc biệt khó khăn từ hơn năm nay.

Công Thành

.
.
.
.
.
.
.
.