Đi tìm truyền nhân của những con tàu huyền thoại

Chủ Nhật, 07/01/2018, 07:11 [GMT+7]
.
.

Con thuyền giúp quân dân nhà Trần giành chiến thắng trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288 đến giờ vẫn còn là huyền thoại. Để vén bức màn huyền thoại này, chúng tôi đã về làng đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tìm gặp những truyền nhân đóng được thuyền buồm cánh dơi, ba vách, ngược nước, ngược gió.

Bia đá ghi công trạng của tổ nghiệp nghề đóng tàu thuyền.
Bia đá ghi công trạng của tổ nghiệp nghề đóng tàu, thuyền.

TỪ NGHỀ ÂN TRẠCH CỦA TỔ TIÊN

Theo nhiều tư liệu thành văn và cả di ngôn của các bậc cao niên, vào năm 1434, 17 cụ Tiên công nhận lệnh vua xuôi thuyền theo sông Hồng ra phía biển Đông. Đến vùng cửa sông Bạch Đằng (thuộc TX Quảng Yên ngày nay), các cụ dừng thuyền, cắm sào, đắp đê, lấn biển. Ngoài đê, các cụ đánh cá, vận tải, giao thương buôn bán; trong đê cấy lúa và làm nhà, tính kế ngàn đời cho con cháu. Để đánh cá, đi lại, buôn bán hay về thăm cố hương, các cụ dùng thuyền gỗ. Nghề đóng tàu, thuyền ở Quảng Yên ra đời, phát triển trong bối cảnh đó.

Nghệ nhân Nguyễn Hoàng Lịch, Phó Trưởng Ban Làng nghề đóng tàu, thuyền vỏ gỗ Cống Mương (khu 8, phường Phong Hải, TX Quảng Yên) bảo, mỗi người con của đất này đều biết ơn tiên tổ gây dựng cơ đồ. Ông Lịch khoe: Đền thờ Tổ nghề đã được dựng lại. Ông Lịch đã có công tìm thấy một tấm bia đá hình chữ nhật khắc năm 1875. Trước đây, không mấy người để ý đến tấm bia đó. Có người còn mang về nhà mình kê lên để đập lúa sau mỗi mùa gặt.

Lúc đó, vì không biết chữ Hán nên ông Lịch không hiểu bia viết gì, chỉ lơ mơ hiểu đã là của cha ông để lại thì phải giữ. Mãi sau này, nhờ người biết chữ Hán dịch, ông mới hiểu rằng bia ghi chép việc phục dựng lại đền thờ Tổ nghề ở làng Phong Lưu, kèm theo là danh sách thợ thuyền, chủ yếu là các dòng họ: Vũ, Lê, Nguyễn. Tấm bia có đoạn tạm dịch như sau: “Thường nghe: Trăm nghề phải có thầy, nghề đóng thuyền cũng thế. Dân lợi do có thuyền bè lưu thông, thật là ân trạch của bậc tiền bối truyền thụ cho cái tinh xảo đó...".

Năm 1895, người đứng đầu đội đóng tàu thuyền làng Cốc (gồm 2 phường Phong Hải và Phong Cốc ngày nay) là cụ Nguyễn Văn Phúc được chính quyền phong kiến nhà Nguyễn cấp bằng kỹ thuật. Từ đó đến nay, mỗi năm 2 lần vào ngày 10/2 và 10/8 âm lịch, người dân làm nghề này tổ chức lễ hội để tri ân tiên tổ, dâng hương tại bia đá Tổ nghề.

Do tính chất quyết định sinh kế và thậm chí cả sinh mạng của người chủ tàu nên từ xưa đến nay, khi truyền nghề, không chỉ là dạy kỹ thuật đóng tàu, các lão nghệ nhân còn dạy cả cách làm người. Ông Lịch kể, tháng 6/1967, ông chính thức học nghề đóng tàu, thuyền. Dù người truyền nghề cho ông chính là thân phụ nhưng vẫn phải có lễ nghĩa bái sư, học đủ đạo đức nghề nghiệp trước khi học nghề. Từ đó, ông Lịch trở thành truyền nhân đời thứ 8 của dòng họ Nguyễn đóng tàu ở đất Cống Mương này.

Ông Lịch phục chế những chiếc tàu, thuyền của tổ tiên.
Ông Nguyễn Hoàng Lịch phục chế những chiếc tàu, thuyền của tổ tiên.

Tôi hỏi tại sao con tàu lại có thể chạy ngược nước, ngược gió và được ông Lịch giảng giải y như một chuyên gia hàng hải. Tên gọi của nó là tàu ba vách (dân địa phương gọi ba mảnh), có hai buồm kiểu cánh dơi. Để tạo thành một con tàu, người thợ phải hoàn thành nhiều cấu kiện, như: Lườn, mạn, khoang lái, khoang mũi, khoang chở hàng, bánh lái lòng, bánh lái mũi, cột buồm lòng, cột buồm mũi, buồm lòng, buồm mũi hình cánh dơi. v.v.. Những con ván được ghép lại bằng cách khoan và luồn dây mây rồi thắt lại chứ chưa có đinh vít như bây giờ.

Độc đáo và bất ngờ nhất là cánh buồm và cách cột buồm. Buồm làm bằng vải diềm bâu nhuộm vỏ cây đâng. Muốn đi kiểu gì lại có nguyên lý cột buồm riêng và các lão nghệ nhân gọi là vật buồm. Muốn chạy xuôi gió thì vật buồm kiểu cánh tiên; chạy ngang gió thì vật buồm pha chằng và chạy vát buồm khi ngược nước, ngược gió.

Thời trung đại ở phương Tây và Trung Hoa có tàu thuyền buồm vuông hay ở nước ta là những con thuyền mành, thuyền vỏ dưa, thuyền lườn mòi, muốn chạy ngược nước, ngược gió phải dùng sức người chèo hoặc lên bờ mà kéo. Bởi vậy, tàu thuyền ba vách buồm cánh dơi của vùng sông nước Bạch Đằng này có lẽ là độc nhất vô nhị trên thế giới.

Đã từng có người đặt ra giả thuyết: Để tạo ra tính bất ngờ trong chiến đấu, quan quân nhà Trần đã dùng thuyền này trong ngày mùng 8 tháng 3 năm Mậu Tý 1288. Khi nước triều xuống, chính những con thuyền này đã chạy ngược nước, ngược gió, đẩy hàng trăm thuyền chiến của quân Nguyên Mông đắm chìm ở thế trận bãi cọc. Điều mà có lẽ đến tận bây giờ, những vong hồn quân cướp nước còn vất vưởng nơi đáy sông Bạch Đằng cũng chưa giải mã được là tại sao con thuyền nhỏ bé của một đất nước không lớn lại có thể ngược nước triều và gió Bấc tháng ba. Bởi thế, chỉ cần nhìn con thuyền ba vách buồm cánh dơi, nhỏ nhẹ, nhanh nhẹn lao về phía mình, đoàn thuyền giặc cũng đã hoang mang rồi. Chưa tìm thấy sử sách chép lại cụ thể câu chuyện trên, nhưng giả thuyết này không phải không có cơ sở.

ĐẾN LÀNG NGHỀ PHÁT ĐẠT HÔM NAY

Tàu, thuyền chạy buồm không ai còn đóng nữa nhưng nghề đóng tàu thuyền vỏ gỗ ở Hà Nam thì chưa khi nào bị gián đoạn. Ông Lịch cho rằng, nghề này tồn tại là nhờ tính hữu dụng của nó. Đặc điểm của các tàu, thuyền mà làng nghề trước kia hay đóng có hình thon, vỏ dưa, mũi tạo thành một chóp nhọn. Sóng phía trước tác dụng lực vào thuyền sẽ rẽ ra hai bên, lực cản giảm, thuyền đi nhanh hơn. Vì tính cơ động đó nên sản phẩm của làng nghề có thể làm phương tiện vận tải trên sông biển, tàu đánh cá, chở khách, thuyền nhỏ phục vụ sinh hoạt.

Ông Lịch chỉ đạp thợ đóng tàu.
Ông Nguyễn Hoàng Lịch (bên phải) chỉ đạo thợ đóng tàu.

Con tàu ra khơi thì được cải tiến đi nhiều và được lắp máy thay vì cánh buồm như xưa. Do bom đạn chiến tranh mà ông Lịch phải gác lại nghề đóng tàu mất mấy năm để cầm súng chiến đấu ở Trường Sơn. Ông xuất ngũ về quê đúng vào thời điểm đang chuyển đổi mạnh từ thuyền buồm sang chạy máy. Buông tay súng, ông Lịch lại ôm ngay lấy búa, khoan, đục đẽo.

Bà Ngô Thị Cảnh, vợ ông bảo: Lúc mới phục viên, ông ấy được mời lên xã làm cán bộ nhưng ông từ chối, bảo quen với nghề đóng tàu thuyền rồi. Ông ấy cầm búa, cầm khoan đục thì được chứ cầm bút lại không quen.

Nhà ông Lịch hiện có 4 bố con theo nghề đóng tàu chạy máy. 2 anh con lớn đã ra lập lán riêng, còn anh thứ 8 thì đang làm cùng ông Lịch. Mỗi lán thợ nhà ông có 30 người làm. 3 lán thợ của bố con ông chiếm giữ cả khúc sông Chanh dài mấy cây số. Vậy nhưng có khi hàng đặt nhiều, cả làng nghề cháy hàng, muốn tuyển thêm thợ về làm cũng không có ai rảnh rỗi.

Nhà ông Lịch có thể đóng tàu trên 300 mã lực, chạy được cả ra Trường Sa. “Riêng con trai cả của tôi đã có thể vừa đóng tàu gỗ vừa đóng tàu vỏ sắt. Tàu vỏ sắt giúp ngư dân ra những ngư trường xa hơn, vươn khơi, bám biển” - Ông Lịch nói với chúng tôi, không giấu được vẻ tự hào.

Người con thứ 8 của ông Lịch cũng đã được cha truyền nghề.
Ông Nguyễn Hoàng Lịch (bên trái) chỉ bảo, truyền nghề đóng tàu, thuyền cho người con thứ 8.

Ông Lịch vừa chỉ bảo thợ làm, vừa phân tích cho chúng tôi nghe các công đoạn. Nào là chọn ngày lành tháng tốt làm lễ phạt mộc. Người thợ cả chọn con ván giữa thuyền từ tấm gỗ thẳng không có mấu, không bị sâu mọt, để bật mực. Từ con ván cái này mà ghép những ván con. Khi hoàn thành lắp buồm và hạ thủy giao cho khách hàng cũng lại phải xem ngày đẹp. Đặc biệt, tục lệ quy định cấm kỵ đàn bà, con gái đi qua trong quá trình đóng tàu thuyền. Theo lời ông Lịch nói, tôi biết có những con tàu khách đặt lên đến trên 3 tỷ đồng - cả một gia sản lớn.

Làng nghề đóng tàu, thuyền vỏ gỗ Cống Mương, khu 8, phường Phong Hải đã được UBND tỉnh công nhận là làng nghề truyền thống. Làng nghề có trên 700 lao động tham gia đóng tàu thuyền, chiếm gần một nửa số lao động của khu 8. Mỗi người thợ lành nghề có mức thu nhập đảm bảo, không dưới 8 triệu đồng/tháng. Những năm qua, doanh thu của làng chưa năm nào dưới 40 tỷ đồng. Làng nghề có 30 lán thợ thường xuyên hỗ trợ nhau “buôn có bạn, bán có phường”. Cùng với đó, nhà thờ Tổ nghề ở phường Phong Hải cũng đã được phục dựng. Nhiều bảo tàng, nhà sưu tập cá nhân cũng đã đến đặt hàng phục dựng con tàu năm xưa. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu hàng hải, trong đó có cả chuyên gia của Mỹ cũng đã đến Phong Hải để tìm hiểu về những con tàu độc đáo này.

Ông Lịch đã bước sang tuổi 68, sức khỏe không được như xưa nữa nhưng nghề đóng tàu, thuyền ông chẳng bao giờ bỏ. Ông dẫn tôi vào gian trưng bày mô hình tàu, thuyền của mình rồi bảo, đây là bộ sưu tập của riêng ông. Nó gồm đủ thứ: Chã tôm, câu mực, mảng, tàu lớn, bơi chải. v.v.. Mỗi cái ông bán cho khách du lịch từ 2 đến 10 triệu đồng, tùy kích cỡ. Ông bảo, các con ông trẻ khỏe đóng tàu vươn khơi bám biển, còn ông già rồi thì đóng tàu cho khách du lịch đi máy bay về nước trưng bày. Mỗi loại tàu, thuyền lại chứa đựng một câu chuyện văn hóa rất riêng. Khi đã hiểu rồi thì mê không dứt ra được.

Chia tay ông Lịch ra về, đi trên cầu Sông Chanh, nhìn những con tàu đánh cá rẽ sóng trên sông, tôi nhớ mãi những câu chuyện miên man không đầu không cuối của ông Lịch. Chuyện của ông gắn liền với những con tàu của làng nghề, gắn liền với mỗi lần tàu, thuyền rẽ sóng ra khơi...

Một con tàu đang được gia đình ông Lịch hoàn thiện.
Một con tàu đang được gia đình ông Lịch hoàn thiện.

Bút ký của Phạm Học

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.