Hưởng ứng Ngày Quốc tế đa dạng sinh học 22-5

Quảng Ninh cần phát huy tiềm năng đa dạng sinh học

Thứ Bảy, 20/05/2017, 17:13 [GMT+7]
.
.

Quảng Ninh là tỉnh có tính đa dạng sinh học cao tập trung ở Vườn Quốc gia - Vườn di sản ASEAN Bái Tử Long, Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của môi trường đang khiến nhiều loại động, thực vật bị xâm hại nghiêm trọng, điều này đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải bảo tồn và phát huy những giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) của tỉnh.

Di chuyển cá thể gấu ngựa từ Vườn Quốc gia Bái Tử Long đến Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.   Ảnh: Việt Hoa
Di chuyển cá thể gấu ngựa từ Vườn Quốc gia Bái Tử Long đến Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Ảnh: Việt Hoa

Tiềm năng phong phú

Theo kết quả điều tra của Kế hoạch hành động ĐDSH tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 thì Quảng Ninh có tính ĐDSH cao với 4.350 loài, 2.236 chi, 721 họ thuộc 19 ngành; 3 giới động vật, nấm và thực vật đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái, đa dạng gen. Bên cạnh đó, có 5 dạng cảnh quan chính quyết định sự đa dạng của các hệ sinh thái trong tỉnh, như cảnh quan núi, đồi, bãi triều, đồng bằng hẹp ven biển, bãi bùn, biển, hải đảo... Toàn tỉnh có 4 khu vực chính có rạn san hô là Vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, đảo Cô Tô và đảo Trần. Ngoài ra, Quảng Ninh có hơn 2.000 hòn đảo, mỗi đảo lại có sự đa dạng độc đáo riêng tạo ra nhiều biến dị di truyền trong cùng một loài.

Quảng Ninh cũng là một trong số ít địa phương trên cả nước có nhiều khu vực được bảo tồn nguồn tài nguyên sinh học, bảo vệ môi trường theo nhiều hình thức khu bảo tồn khác nhau, gồm: Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia Bái Tử Long, Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Khu bảo vệ cảnh quan Rừng Quốc gia Yên Tử, Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm tại TP Hạ Long. Ngoài ra, theo Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020, trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh Quảng Ninh có thêm 2 khu vực được quy hoạch để bảo tồn ĐDSH là: Khu bảo tồn biển Cô Tô - đảo Trần và Khu vực vùng cửa sông Tiên Yên. Riêng về đa dạng hệ sinh thái của Vịnh Hạ Long vô cùng phong phú với hai hệ sinh thái lớn là rừng kín và biển ven bờ. Đối với hệ sinh thái rừng kín, các nhà khoa học đã xác định được tổng số loài thực vật sống trên các đảo ở Vịnh Hạ Long là hơn 1.000 loài. Đối với hệ sinh thái biển ven bờ, sự phong phú về ĐDSH càng thể hiện rõ hơn với các dạng sinh thái tiêu biểu, như vùng triều và vùng ngập mặn; đáy cứng, rạn san hô...

Điều tra thực địa về đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long.
Điều tra thực địa về đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long.

Khó khăn trong bảo tồn

Có thể thấy, ĐDSH của Quảng Ninh vô cùng phong phú. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là các nguyên nhân mở rộng đất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ, hải sản, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, khai thác gỗ, săn bắt và buôn bán các loài động, thực vật hoang dã, ô nhiễm môi trường... dẫn đến ĐDSH ngày càng bị suy thoái. Nhiều loài, như: Hổ, gấu ngựa... đã không còn được phát hiện tại Quảng Ninh và nhiều rạn san hô đã bị suy giảm nghiêm trọng, khó có thể hồi phục.

Điều đáng mừng là hiện nhiều luật liên quan bảo vệ ĐDSH được ra đời, như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản, Luật Tài nguyên nước và quan trọng nhất là Luật ĐDSH. Đây là khung luật đầu tiên của Việt Nam quy định về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo tồn, phát triển bền vững ĐDSH làm cơ sở cho việc ban hành chiến lược, quy hoạch phát triển ĐDSH của các địa phương và định hướng phát triển những khu bảo tồn ở địa phương. Khung pháp lý đã có nhưng việc thực thi pháp luật về ĐDSH lại khó khăn do sự chồng chéo giữa các văn bản luật. Bảo tồn ĐDSH đang gặp khó do có sự chia tách trong hướng dẫn thực thi giữa Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản và Luật ĐDSH khi quy định cùng vấn đề về bảo tồn ĐDSH; thiếu sự phối hợp và đồng thuận trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về ĐDSH.

Ngoài ra, tài chính cho bảo tồn ĐDSH còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu quản lý nhà nước về ĐDSH. Hiện tại, kinh phí cho bảo tồn ĐDSH được lấy chủ yếu từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường (khoảng 1% NSNN). Trên thực tế, nguồn lực tài chính đầu tư cho ĐDSH không đủ để triển khai các hoạt động bảo tồn ĐDSH, như: Điều tra cơ bản, xây dựng cơ sở dữ liệu; quan trắc, thống kê ĐDSH; phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; xây dựng, nâng cấp, cải tạo khu bảo tồn... Tài chính hạn hẹp, khiến hoạt động của các khu bảo tồn chưa phát huy hiệu quả.

Sự suy giảm nhanh của nhiều loài động, thực vật khiến cho công tác bảo tồn trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Do vậy, các ngành chức năng cần có những động thái quyết liệt, biện pháp hữu hiệu để giải quyết những khó khăn trên.

Thu Trang

.
.
.
.
.
.
.
.