Quan Lạn, huyền tích và chiến công

Chủ Nhật, 05/06/2016, 14:26 [GMT+7]
.
.

Tôi đã lang thang khắp các xóm làng ở xã đảo Quan Lạn (Vân Đồn) để tìm hiểu, khám phá và càng tìm hiểu, tôi càng thấy đây là vùng đất thật đặc biệt...

Đền thờ 3 vị tướng họ Phạm.
Đền thờ 3 vị tướng họ Phạm.

CHUYỆN VỀ DÒNG HỌ PHẠM

Tôi ghé thăm đình làng, xúc động khi nghe cụ thủ từ giới thiệu về bài vị của 3 vị tướng họ Phạm. Dòng họ Phạm ở đây có gốc gác, lai lịch từ Khê Chanh, phường Quảng Yên, TX Quảng Yên. GS Hoàng Giáp, nguyên Trưởng phòng Sưu tầm (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) và cộng sự đã chỉ ra rằng, lai lịch 3 anh em họ Phạm từng là phó tướng của Trần Khánh Dư, đã được thờ ở Quan Lạn trùng khớp với tên được ghi trong bài vị được thờ tại từ đường họ Phạm làng Khê Chanh.

Vậy là lai lịch của họ dù sao cũng dần sáng tỏ nhưng còn chiến công thì đang như một huyền tích được bao phủ bởi lớp sương mù bảng lảng. Trên đảo hiện nay còn lưu lại một truyền thuyết không kể rõ tài năng cụ thể từng người, chỉ biết một người là "ông Nhòm" có tài nhìn xa, vị thứ hai là "ông Hô" có tài ăn sóng nói gió, cổ vũ động viên hô hoán cho dân đảo rất có uy tín, vị tướng thứ ba là "ông Đục" có tài lặn giỏi đã bơi ra đục chìm thuyền giặc.

Khi nhận lệnh nhà Trần, đem quân ra Vân Đồn, tuy là một tướng tài nhưng do chưa am hiểu địa thế nên Trần Khánh Dư có lẽ cũng không tránh khỏi lo lắng. Được 3 anh em họ Phạm đầu quân, Trần Khánh Dư lòng vui mừng khôn xiết.

Bằng kinh nghiệm của mình, ba anh em dũng tướng họ Phạm đã bày kế đem thuyền giấu vào sương mờ dày đặc trên biển và đón lõng để đánh. Đoàn thuyền vận chuyển lương và quân tiếp vận của tướng giặc Trương Văn Hổ đi vào vùng biển Quan Lạn, đã bị những mũi tấn công thoắt ẩn thoắt hiện trong sương mù cắt đội hình. Toàn bộ 500 chiến thuyền, 70 vạn hộc lương chở hàng vạn quân hoặc bị đốt cháy hoặc chìm xuống đáy biển sâu.

Trong trận hải chiến thắng lợi lẫy lừng đó, 3 vị tướng họ Phạm đều đã hy sinh. Thi thể 3 ông trôi dạt vào bờ, được người dân vớt lên, chôn cất và dựng đền thờ. Phạm Công Chính được thờ ở giữa làng, miếu thờ Phạm Quý Công ở núi Đồng Hồ và miếu thờ Phạm Thuần Dụng ở núi Sao Ỏm. Trên ngôi đền thờ nằm cạnh đình, chùa Quan Lạn cũng có bài vị thờ 3 anh em họ Phạm. Vua Trần cũng truy tặng tước hiệu và biểu dương công trạng của họ. Lễ hội bơi chải tri ân những người đã hy sinh như 3 vị dũng tướng cũng được dân làng tổ chức vào dịp 18-6 âm lịch hàng năm.

Những lễ hội tín ngưỡng dân gian và cả những công trình văn hoá đã góp phần làm nên bản sắc riêng có của Quan Lạn. Quan Lạn là một làng đảo rất hiếm còn duy trì được đầy đủ thiết chế văn hoá làng xã với đình, chùa, miếu, nghè. Xã đảo trên biển nhưng nói đến sông thì có sông Mang hào hùng chứa biết bao điều huyền thoại về chiến công của Trần Khánh Dư và các gia tướng họ Phạm. Nói đến bến, có bến Cái Làng, bến Cống Cái, bến Con Quy. Nói đến giếng làng, Quan Lạn có nhiều nữa là đằng khác. Nổi tiếng nhất có lẽ vẫn là giếng Hệu đã đi vào ca dao: "Ra đi tóc chấm ngang vai/ Tắm nước giếng Huệ tóc dài ngang lưng".

Một góc xã đảo Quan Lạn hôm nay.
Một góc xã đảo Quan Lạn hôm nay.

Theo lịch sử Đảng bộ xã Quan Lạn, thời phong kiến, thiết chế làng xã ở Quan Lạn hết sức chặt chẽ. Quan Lạn có các xóm, mỗi xóm có một điếm canh, 1 trống cùng các dụng cụ làm đồ cứu hoả. Nam giới từ 18 đến 50 tuổi có trách nhiệm đi canh luân phiên và không được nhận bất kỳ thù lao nào. Ngoài các xóm còn có 6 giáp: Đông, Nam, Đoài, Bắc, Văn, Võ. Đứng đầu mỗi giáp là trưởng giáp lo điều hành công việc chung. Trưởng giáp được ngồi cùng chiếu với các bô lão và được ưu tiên nơi đánh cá thuận lợi nhất. Con cháu họ Phạm nhiều người đã được cất nhắc làm một số chức sắc địa phương thời phong kiến.

Ngoài giáp còn có 2 phường hội là hội nghĩa hợp gồm những người nghèo, không có chức vị gì họp nhau lại để làm việc nghĩa và hội chư bà tập hợp phụ nữ từ 45 tuổi trở lên để đi lễ chùa. Việc bảo vệ an ninh làng xã được giao cho một đội gọi là dõng, có nhiệm kỳ 3 năm để canh gác, tuần phòng, trông nom đường sá, đê điều, xử lý trộm cắp, cờ bạc.

Trước cách mạng tháng Tám 1945, Quan Lạn thuộc tổng Vân Hải, châu Cẩm Phả, tỉnh Quảng Yên. Giai đoạn ấy, Quan Lạn phải đối mặt với giặc giã cướp biển triền miên, giao thông đình trệ, nhân dân đói ăn, thiếu mặc, đời sống điêu đứng cùng cực. Đầu năm 1945, đã có hàng trăm người chết đói, có gia đình không một ai vượt qua nạn đói. Cụ Phạm Văn Phiệt người đồng hành trên chuyến tàu gỗ với tôi bảo, những người sinh trước năm 1945 như cụ khi qua đời các thầy cúng đều ghi vào tấu sớ nơi sinh là tổng Vân Hải, châu Cẩm Phả, tỉnh Quảng Yên. Cụ bảo, ghi thế cũng để nhắc nhở cháu con về một thời gian khổ mà các cụ đã trải qua để có được ngày hôm nay. 

Ông Phạm Quốc Duyệt, người có nhiều năm làm cán bộ văn hoá xã Quan Lạn cho biết, hiện nay họ Phạm vẫn đang là dòng họ lớn nhất tại Quan Lạn, gồm các chi Phạm Chính, Phạm Đình, Phạm Văn, Phạm Quốc. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Quan Lạn có 53 liệt sĩ thì 13 người trong số đó là người họ Phạm. Con cháu họ Phạm có người là tiến sĩ, người làm đến Phó Chủ tịch huyện, người là giám đốc công ty, có người là nhà giáo ưu tú. Hiện con cháu họ Phạm ở Quan Lạn ra sức lao động sản xuất, động viên dân làng phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, bảo vệ biển đảo quê hương vững chắc về an ninh quốc phòng, xây dựng xóm làng ấm no hạnh phúc.

Bến Cái Làng trong thương cảng Vân Đồn qua bức tranh cổ của một hoạ sĩ Tây Ban Nha. (Ảnh chụp lại từ Không gian trưng bày tại cụm di tích đình, chùa, đền Quan Lạn).
Bến Cái Làng trong thương cảng Vân Đồn qua bức tranh cổ của một hoạ sĩ Tây Ban Nha. (Ảnh chụp lại từ Không gian trưng bày tại cụm di tích đình, chùa, đền Quan Lạn).

SỨC HÚT CỦA VÙNG ĐẤT GIAO THƯƠNG

Lại nói về Trần Khánh Dư, ông không chỉ là danh tướng trấn giữ về quân sự, biết tập hợp người tài dưới trướng của mình, mà còn là người vừa biết mở mang giao thương lại vừa biết cổ vũ tinh thần dân tộc. Có thể nói, Trần Khánh Dư là một quý tộc có tư duy thương nghiệp đầu tiên và điển hình nhất thời Trần. Lúc cơ hàn, ông đã đi bán than. Khi ra trấn giữ Vân Đồn, ông bực tức khi thấy mọi đồ dùng của dân đều phải trông chờ vào khách buôn phương Bắc. Đầu tiên, ông ra lệnh cho dân chúng quanh vùng không dùng nón của phương Bắc mà phải dùng nón được chở ra từ Hồng Lộ (Hải Dương). Như thế, cái tư tưởng "người Việt dùng hàng Việt" không phải bây giờ mới có, mà có lẽ đã xuất hiện từ thời Trần, bắt đầu từ quyết định của Trần Khánh Dư.

Cụ Lưu Bá Hộ (ở thôn Đoài) bảo rằng, ở Quan Lạn đào đất, làm móng nhà hay bơi lặn dưới dòng sông Mang nhiều nơi đều dễ gặp những mảnh gốm, bát đĩa cổ. Bởi thế, Quan Lạn là một vùng trầm tích rất có giá trị về mặt khảo cổ học. Dựa trên các cứ liệu lịch sử nhiều nhà khoa học đều đưa ra giả thuyết rằng Quan Lạn là trung tâm của thương cảng Vân Đồn xưa kia.

Tôi đi trên đất này nghe các cụ cao niên nói về tên đất tên làng mà cũng đủ tin rằng nhận định đó là đúng. Quan Lạn còn có tên là Quang Lạn, Làng Vân, Làng Cả hay Cái Làng. Cái Làng là làng mẹ, làng cả, làng lớn nhất, đứng đầu trong vùng. Chẳng thế mà đến tận bây giờ người của những xã đảo lân cận không nói "đi Quan Lạn", "đến Quan Lạn" mà nói "lên Quan Lạn", giống như người ở tỉnh lẻ nói "lên Hà Nội", người ở các tỉnh Nam bộ trước kia nói "lên Sài Gòn", giờ nói "lên thành phố". Quan Lạn luôn ở vào vị trí trung tâm trong tâm thức và hành động của những ngư dân ngày đêm bám biển. 

Cái tên Quan Lạn cũng hàm chứa nhiều điều thú vị về vùng đất này. Có một thuyết cho rằng, Quan Lạn là vùng đất sáng được ghép từ hai chữ "Quang" nghĩa là ánh sáng và "Lạn" nghĩa là sáng sủa. Lâu dần do thổ âm địa phương đọc chệch "Quang" thành "Quan", "Quang Lạn" thành "Quan Lạn". Tôi tìm thấy trên đôi câu đối cổ ở đình Quan Lạn, các cụ xưa viết tên đất là Quang Lạn chứ không phải là Quan.

Mang câu chuyện này hỏi cụ Lưu Bá Hộ, hậu duệ dòng họ Lưu đã có 11 đời ở đảo; cụ bảo, Quan Lạn không phát sáng sao được khi tên đất có 2 chữ chỉ ánh sáng. Và thêm nữa, Quan Lạn nếu chưa phát sáng thì cũng thu vào mình ánh sáng của 2 viên ngọc ở xung quanh. "Minh Châu và Ngọc Vừng ở cạnh Quan Lạn chẳng phải là những viên ngọc sáng thì là gì" - Cụ Lưu Bá Hộ gật gù nói.

Thực ra không chỉ những vùng đất xung quanh làm cho Quạn Lạn thêm rực rỡ, mà trong quá khứ sức hút này còn lan rộng đến tận các nước trong khu vực. Chẳng thế mà thuyền buôn của các nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La v.v. đã xin vào cư trú, buôn bán trở thành một gợi ý rất hay để vua Lý Anh Tông lập ra thương cảng quốc tế đầu tiên của nước Việt chúng ta.

Nội lực phát triển ấy đã và đang được duy trì trong xu thế hôm nay. Kinh tế thuỷ sản của địa phương từng bước được phát triển bền vững hơn. Hiện xã đảo có trên 500 lao động đánh bắt sá sùng thu gần chục tỷ đồng mỗi năm, trên 120 phương tiện tàu thuyền đánh bắt hải sản với sản lượng trên 1 nghìn tấn đạt trên 10 tỷ đồng mỗi năm. Những món quà của biển khơi đã được những người như: Cụ Lưu Bá Hộ (thôn Đoài), cụ Nguyễn Văn Duy và cụ Nguyễn Thị Dược (thôn Thái Hoà) v.v. đem làm mắm cá, mắm tôm, mắm sá sùng. Mắm làm ra chẳng cần phải mang đi đâu bán cứ để ở nhà khách du lịch cũng đến khuân cho bằng hết.

Cụ Hộ cũng cho biết con trai cụ mở cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch ở Sơn Hào, từ khi có điện lưới quốc gia khách đến càng đông, thu nhập tăng hẳn so với những năm trước đây. Đã thế có điện không còn phải chạy máy nổ tốn tiền dầu, mỗi tháng tiết kiệm được vài chục triệu đồng. Riêng 3 tháng hè cũng tiết kiệm được khoảng 1 trăm triệu đồng tiền dầu. 

Kinh tế du lịch ở Quan Lạn phát triển dựa trên thế mạnh từ các di tích lịch sử văn hoá, cảnh quan du lịch sinh thái trên địa bàn. Bãi biển Quan Lạn vừa được Hiệp hội Du lịch Việt Nam bình chọn là bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Chỉ tính riêng kỳ nghỉ 30-4 và 1-5 vừa qua, Quan Lạn đã thu hút khoảng 1 vạn lượt khách, tăng gần 3 nghìn lượt so với cùng kỳ năm ngoái. Kinh tế phát triển đã làm cho đời sống bà con trên đảo khấm khá hơn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Quan Lạn luôn đạt ở mức cao. Hiện tỷ lệ hộ nghèo của xã chỉ còn 1,44%. Con em Quan Lạn hiện 5 người có học vị tiến sĩ, trong đó có 1 tiến sĩ ở nước ngoài.

Tôi đọc những con số ấn tượng đó mà hình dung về cảnh sầm uất trên bến dưới thuyền thời thịnh vượng xưa kia của thương cảng Vân Đồn. Cái nhộn nhịp xưa kia đang dần được tái hiện lại ở Quan Lạn hôm nay với một khí thế mới, sức sống mới.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.