Cánh cửa bước vào cuộc sống

Thứ Bảy, 07/01/2017, 04:34 [GMT+7]
.
.

(Nhân đọc tiểu thuyết Cửa sóng (NXB. Hội Nhà văn 2016) của Hoàng Tuấn Dương)

Có nhiều cánh cửa để bước vào cuộc đời rộng lớn ngoài kia. Nhưng với hệ thống nhân vật trong đọc tiểu thuyết Cửa sóng (NXB. Hội Nhà văn 2016) chỉ có một cánh cửa ấy là sự lao động, không ngừng vươn lên trong cuộc sống, gắn chặt mình vào với quê hương thứ hai của ông là Vùng mỏ.

Có thể nói trải qua hơn 250 trang sách, người đọc như được sống một cuộc sống khác của quá khứ, với nhân vật chính là người công nhân ngành Than. Tất cả bắt đầu bằng năm 1949: “Tàu thủy Nam Triệu đến bến Vũng Đục, Cẩm Phả min vào lúc năm giờ sáng, chưa rõ mặt người. Mọi người lục tục gọi nhau lên bến”. Năm 1949 có nhiều biến động của lịch sử dẫn đến nhiều biến động của những vùng đất, cuối cùng là những biến động của con người và kết thúc của cuốn tiểu thuyết là cảnh một đám cưới, những bài hát cũ cùng nhiều bài hát mới vang lên. Ba chữ cuối cùng chấm dứt cuộc phiêu lưu của các phận người là “Hạnh phúc thay!”.

Trang bìa cuốn tiểu thuyết “Cửa sóng”.
Trang bìa cuốn tiểu thuyết “Cửa sóng”.

Hạnh phúc ở đây được dựng xây, luân chuyển qua ba thế hệ. Thế hệ đầu tiên là vợ chồng Khánh, Lan, người Đồ Sơn, Hải Phòng ra Cẩm Phả lập nghiệp. Họ ở nhờ nhà người họ hàng tên Bốn. Tác giả quan sát kỹ, tả mà như vẽ lại cảnh nhà của bất cứ ngôi nhà người cu ly mỏ nào hồi đó. Cái nghèo, cái hèn, cái khổ không chỉ thể hiện qua suy nghĩ, hành động của nhân vật, nó còn tự thể hiện qua sự xuất hiện của các đồ vật. “Ngôi nhà cấp bốn thấp lè tè có chỗ trông thấy cả mặt trời. Đồ đạc chẳng có gì đáng kể. Một cái giường rẻ quạt cũ kỹ, một tấm phản bằng ván hòm mìn ghép lại đủ một người nằm và một cái chõng tre. Cái bàn uống nước, đóng bằng gỗ thông, gẫy một chân được chắp nối lại bằng mọt khúc tre rừng”.

Khánh qua sự dẫn dắt của ông Bốn, một cu ly than do gẫy chân bị đuổi việc, chạy chọt, quà cáp nơi cai Thanh được vào làm ở lò Lộ Trí. Lan đi xuống Cẩm Bình Tây mua rau muống gánh về chợ ngồi bán. Lộc con trai cả của Khánh và Lan đi bán kem. Hai em kế Lộc là Hanh và Dũng ngày ngày lên rừng thông, đồi Mông - Giăng lấy bông ỏng về bán cho người làm chổi. Những tưởng cuộc sống của họ thế là đã tạm ổn định, tay làm hàm nhai nhưng không phải thế, Lan đi chợ sớm bị ba thằng lính Bảo chính đoàn đi tuần về cưỡng hiếp, may mà có người đi lễ nhà thờ sớm cứu. Lộc bán kem thì bị bọn lính trong đồn gọi vào nhổ nước bọt vào thùng kem, đổ vào ca nước nóng rồi đuổi đi, mất cả vốn lẫn lãi. Hết bán kem nó quay ra đánh giày, gặp bọn lính, cai ký đánh không vừa ý là bị đá đít, bạt tai, tan thùng đồ nghề chẳng được xu nào. Hết đánh giày lại đi ở cho nhà buôn người Hoa kiều ở phố Ly - Ông. Còn Khánh đói quá đội than có lần xỉu, bạn cu ly phải khênh ra cửa lò, lay gọi, đái ra tay rồi vả nước đái vào mặt.

Nhưng sự mất mát về thể lực chẳng so sánh được với sự mất mát tinh thần khi mất đi người bạn đồng hương tên Thủy. Thủy bị giặc bắt vì là Việt Minh. Từ đây bước ngoặt của cuốn tiểu thuyết bắt đầu được mở ra. Khánh nhớ lại những lần Thủy nói với mình về nỗi khổ của người nô lệ, mất nước, nỗi khổ của cu ly đội than, về người nghèo, về tình nghĩa của anh em cu ly với nhau. Những người nghèo phải biết yêu thương, đùm bọc, đoàn kết với nhau đấu tranh với bọn cai ký, giám thị, chủ mỏ. Song không được manh động, đơn lẻ, làm gì cũng phải có tổ chức. Những người cu ly mỏ khổ vì xã hội người bóc lột người của bọn đế quốc, thực dân áp vào thuộc địa không cho họ sướng. Họ phải đoàn kết đứng lên dưới lá cờ Việt Minh để giành lại quyền sống, quyền được mưu cầu hạnh phúc cho bản thân, gia đình.

Thế hệ thứ hai là Lộc (sau được thầy giáo đổi tên thành Tuấn). Việc đổi tên của Lộc cho thấy sự lột xác, thay đổi căn cốt của con người trước và sau cách mạng: “Cu Lộc nhớ mãi cái ngày Bộ đội Cụ Hồ về giải phóng khu mỏ. Ôi, cơ man nào cờ đỏ sao vàng, còn rất nhiều hoa nữa... Trông chú bộ đội nào cũng oai vệ, hiền lành, có chú còn dắt tay nó. Các xóm thợ, phố thị, các cửa hàng, cửa hiệu đều đổ xô ra đứng hai bên đường vỗ tay hoan hô các chú Bộ đội Cụ Hồ”. Tuấn của giai đoạn sau 1954 được ăn học, xây dựng gia đình. Tiếp tục gắn bó với ngành than qua chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, qua cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới, qua cuộc chiến cam go với nạn than thổ phỉ, ngành than trong nền kinh tế thị trường; ngành than trong việc mở rộng sản xuất, nâng cao đời sống cho người công nhân mỏ...

Thế hệ thứ ba là Lan, là Hào con Nguyễn Tuấn, những người trẻ được đào tạo bài bản trong trường lớp. Họ có tài, có tri thức, có niềm say mê yêu và sống. Họ nối tiếp cha ông mình tiếp tục học về mỏ, để rồi trở về gắn bó với ngành than. Không những thế, họ còn truyền niềm yêu quý quê hương cho những người ở nơi khác đến.

Với giọng văn chậm rãi, tác giả Hoàng Tuấn Dương đã tái hiện cuộc sống gần 80 năm của một gia đình qua ba thế hệ sống nơi đất mỏ. Tôi tin với vốn sống phong phú tác giả sẽ tiếp tục sáng tạo không ngừng để cho ra đời những tác phẩm tiếp theo đặc sắc hơn, đem đến cho độc giả những bữa tiệc chữ nghĩa nhiều màu sắc hơn nữa.

Đinh Phương(Báo Hạ Long)

.
.
.
.
.
.
.
.