Có một dòng tranh dân gian...

Thứ Hai, 10/01/2011, 07:35 [GMT+7]
.
.
Sau mấy chục năm bỏ công sưu tập tranh khắc gỗ, đá ở các đình, chùa (chủ yếu ở khu vực Yên Hưng), vừa qua, họa sĩ Lê Vân Hải đã trao tặng lại cho Bảo tàng Quảng Ninh hơn 100 bản dập tranh dân gian các loại.

Nhiều trong số này rất có giá trị, cả về mặt nghệ thuật tạo hình dân gian, hàm lượng văn hóa lẫn tính “độc bản”, bởi lẽ, do yếu tố lịch sử, các bản tranh khắc gỗ gốc đã bị phá hủy theo thời gian.

Bộ sưu tập các bản dập này, theo đánh giá của ông Trần Trọng Hà, Giám đốc Bảo tàng Quảng Ninh là đa dạng về loại hình, nhiều về số lượng, phản ánh những giá trị chính trong đình, chùa trên vùng đất Quảng Ninh. Bởi vậy, dựa vào đây có thể cho biết nhiều thông tin về nghệ thuật tạo hình dân gian Quảng Ninh.

 

 

 

Tử cung.

Tử vi cung.

Sinh cung.

Bộ tranh “Thánh Đạo Hưng Long” là một trong những bộ tranh thờ giá trị của dân tộc Dao do Bảo tàng tỉnh sưu tầm.

Đây chỉ là một loại hình tranh dân gian tồn tại ở Quảng Ninh nhưng khá quan trọng. Qua tìm hiểu được biết, những tranh này được khắc trên gỗ, chủ yếu có ở các đình, chùa, đền, miếu với chủ đề thiên nhiên, con người gắn với một số yếu tố bản địa như văn hóa biển. Hoạ sĩ Lê Vân Hải đến giờ vẫn còn trầm trồ về một bức khắc gỗ ở đình Quỳnh Biểu mà ông sưu tầm được. Ông bảo: "Không chỉ có cảnh rồng, phượng mà còn cả cảnh chèo đò, thuyền câu dong cá trên biển... rất đẹp". Dấu ấn văn hoá biển thể hiện trong tranh dân gian tương đối rõ chính là ở những bức khắc gỗ như thế này. Bên cạnh đó, nhiều bản khắc là các tranh thờ với tranh khắc gỗ, vẽ màu trên gỗ, các phù điêu trang trí, có thể là nhiều màu hoặc đen trắng phục vụ cho các sinh hoạt cộng đồng, các điểm thờ cúng đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân. Lần giở các bản dập tranh dân gian kể trên, nhiều bức được chạm khắc tinh xảo với các đường nét rất mềm mại. Hoạ sĩ Lê Vân Hải nhận xét: "Chúng ta nói chung chịu ảnh hưởng Phật giáo từ Ấn Độ chứ không phải Trung Quốc nên các bản khắc minh hoạ kinh Phật chủ yếu ảnh hưởng về đề tài chứ không bị ảnh hưởng nghệ thuật Trung Quốc như tranh làm bằng giấy. Vì vậy, kỹ thuật khắc cũng vụng hơn, khắc theo cách hiểu về Phật giáo chứ không phải là chép tranh Phật. Một số bản khắc có bố cục, hình hoạ đẹp, nội dung thì giống trong kinh Phật, minh hoạ kinh Phật, chùa nào cũng có bản kinh, thập vật, cửu ngục, niết bàn... Nhưng cách khắc thì cái do tốp thợ khắc tốt, cái thì không. Những thợ ấy đi khắp các thôn làng, không biết có phải dân Quảng Ninh không?".

Quan trọng không kém trong dòng tranh dân gian ở Quảng Ninh là tranh thờ của đồng bào các dân tộc thiểu số mà hiện nay việc lưu giữ chủ yếu do những người hành nghề thầy cúng làm. Điển hình nhất là dòng tranh thờ của người Dao. Bảo tàng Quảng Ninh hiện đang lưu giữ trên 70 bức tranh thờ loại này. Các tranh đều được vẽ trên giấy dó và giấy xuyến chỉ (một loại giấy Trung Quốc), thiên về vẽ thần thái, nhiều bức nét vẽ mộc mạc, phóng khoáng nhưng cũng có những bức nét vẽ rất sắc sảo. Ông Trần Trọng Hà cho biết: "Bộ tranh được các nhà nghiên cứu tranh dân gian, tranh thờ đánh giá là rất có giá trị trong hệ thống tranh thờ các dân tộc thiểu số Việt Nam. Sưu tập tranh này tương đối đồ sộ, nhiều về số lượng bộ tranh và tranh, các tranh có kích cỡ lớn, như bộ Hành Say, bộ Thánh đạo Hưng Long, bộ Bát tiên v.v... Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã đề nghị chúng tôi để mượn bộ tranh này trưng bày ở Hà Nội trong năm nay".

Ngoài hai loại tranh vừa kể trên, theo ông Hà thì tranh dân gian ở Quảng Ninh còn một số ít ở các gia đình, chủ yếu mang tính thưởng ngoạn và giáo dục, như vẽ tổ tiên, vẽ về các tích cổ trong các tranh thờ, cảnh trí (tứ quý, tứ bình). Rồi tranh thêu của đồng bào trên trang phục, khá đặc biệt, có chức năng trang trí. Gần đây nhất thì phải kể đến tranh làm từ các chất liệu tự nhiên như than đá, phun than, vỏ điệp...

Nói về ý nghĩa của dòng tranh dân gian, ông Hà khẳng định vai trò  quan trọng nhất là phục vụ nhu cầu tâm linh của con người, giáo dục con người sống hài hòa với nhau, tu nhân, tích đức, làm điều thiện, tránh điều ác... Dòng tranh thờ hiện nay đồng bào vẫn sử dụng trong các hoạt động thờ cúng, như lễ cấp sắc của người Dao và các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khác, sử dụng trong các gia đình. Nhiều bức tranh khắc gỗ được giới chuyên môn đánh giá có vào cuối thế kỷ XVII, đầu XVIII, tranh giấy dó cũng có bức tranh đã tồn tại hàng trăm năm. "Tôi từng được xem tranh thờ của một số địa phương như Bắc Giang, Lạng Sơn và một số tỉnh vùng núi Tây Bắc khác. Nói chung, kích thước tranh của Quảng Ninh lớn hơn, số lượng nhân vật cũng nhiều hơn. Nhiều bức đạt đến trình độ cao về mỹ thuật, nghệ thuật không còn dân dã nữa trong cả phối màu và tạo hình. Cũng là dùng các màu tự nhiên nhưng bảng màu trong tranh Quảng Ninh phong phú hơn, hình hoạ tốt, mang tính bác học, nhất là tranh thờ". Tuy nhiên, ông Hà cũng nhấn mạnh: "Cần phân biệt tranh dân gian Quảng Ninh và tranh dân gian có ở Quảng Ninh. Trong đó, tranh thờ của người Dao chắc chắn nhiều bức không phải người Quảng Ninh vẽ, còn như tranh khắc gỗ thì có thể do người bản địa vẽ. Nghệ nhân dân gian ở nhiều nơi vẽ và người dân mua về là điều rất bình thường thôi".

Quay lại bộ tranh thờ, Báo Quảng Ninh từng đề cập đến vấn đề "nếu không bảo tồn tốt, rất có thể tranh thờ Quảng Ninh sẽ bị thất truyền". Dù những năm qua, Bảo tàng tỉnh thường xuyên triển lãm giới thiệu về tranh thờ nhưng thực tế, việc tìm hiểu ý nghĩa tranh thờ quá phức tạp, gắn liền với việc tìm hiểu giáo lý của nhiều tôn giáo nên không phải ai cũng am hiểu. Cộng với một số lý do khác, như vấn đề bảo quản tranh hay cơ chế khuyến khích các nghệ nhân làm nghề chẳng hạn, thì vấn đề bảo tồn vốn cổ vẫn luôn rất "nóng". Còn như một số đình, chùa Quảng Ninh, từ lâu nhiều nét kiến trúc gốc đã bị mất đi, nay có thể dựa vào các bản dập kia để phần nào phục hồi vốn cổ. Tại sao không nhỉ, nhưng ai sẽ là người đứng ra để làm việc đó? Xin mạo muội đặt ra câu hỏi này cho những người tâm huyết với văn hoá truyền thống lưu tâm suy nghĩ.

.
.
.
.
.
.
.
.