Đại tá Nguyễn Văn Ái, Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự (Bộ Quốc phòng):

"Địa danh Quảng Ninh góp phần làm giàu kho từ vựng tiếng Việt..."

Chủ Nhật, 25/08/2019, 09:52 [GMT+7]
.
.

"Địa danh Quảng Ninh xưa và nay" là nhiệm vụ khoa học công nghệ được UBND tỉnh giao cho Hội Văn nghệ dân gian Quảng Ninh thực hiện trong 2 năm 2018-2019, bằng nguồn ngân sách tỉnh. Đại tá Nguyễn Văn Ái, Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự (Bộ Quốc phòng) là một trong những tác giả của công trình này. Nhân dịp ông đến Quảng Ninh dự một hội thảo về địa danh, phóng viên đã có cuộc trò chuyện cùng ông.

Đại tá Nguyễn Văn Ái.
Đại tá Nguyễn Văn Ái.

- Thưa ông, địa danh có chức năng và lợi ích như thế nào trong đời sống xã hội?

+ Địa danh là tên gọi của một địa hình tự nhiên, một công trình xây dựng, một đơn vị hành chính hay một vùng lãnh thổ. Địa danh dùng để định danh sự vật nhưng còn có chức năng khác mà các danh từ thông thường không có, đó là cá thể hóa đối tượng (danh từ riêng). Chính nhờ chức năng này mà địa danh trở thành một bộ phận không thể tách rời được của đời sống xã hội.

Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, 4 thành phố của Quảng Ninh có hơn 600 tên đường, tên phố đã được đặt tên. Anh thử hình dung bỗng nhiên 600 địa danh này mà biến mất thì cuộc sống của chúng ta sẽ bị đe dọa. Công an, cảnh sát giao thông, cảnh sát cứu hỏa, bưu điện, bệnh viện không thể tiếp cận được một địa chỉ cụ thể. Khi ta muốn tìm một cơ quan, một số nhà nào đó để làm việc, để thăm hỏi, ta sẽ không thể tìm được và khi đó thành phố sẽ bị đình trệ rất nhiều hoạt động.

- Theo ông, hệ thống địa danh ở Quảng Ninh có những điểm gì đáng chú ý về mặt ngôn ngữ?

+ Quảng Ninh có hơn 20 dân tộc anh em cùng chung sống. Vì thế, ở Quảng Ninh tồn tại hàng trăm địa danh gắn với đặc trưng các vùng đồng bào dân tộc, như: Nà, Khau, Voòng. Những địa danh này xuất hiện ở vùng bán sơn địa, vùng đồng bằng ven biển không hề có. Theo tôi, trong các dân tộc đó có 3 dân tộc có ảnh hưởng lớn nhất tới ngôn ngữ địa danh là người Kinh, người Dao và người Hoa. Tôi lấy ví dụ như ở tỉnh nhà có những địa danh bắt đầu bằng chữ “Lục” (Lục Hồn, Lục Nà, Lục Chắn) theo tiếng Tày nghĩa là ruộng lầy; hay như có chữ “Ngàn” theo tiếng Tày là rừng đầu nguồn; “Sán” theo tiếng Dao có nghĩa là núi; “Nà” theo tiếng Tày nghĩa là đồng ruộng; chữ “Pò” theo tiếng Tày nghĩa là đồi; “Sủi” tiếng Dao nghĩa là nước; “Vàn” (Vàn Chảy, Bắc Vàn, Nàm Vàn, Tài Vàn, Vàn Sìn đều nằm trên huyện đảo Cô Tô) theo tiếng Hoa nghĩa là vùng biển có nước sâu lấn vào.

Toàn tỉnh Quảng Ninh có 36 địa danh là lạch, 18 địa danh là tên luồng thiên tạo, 15 địa danh là cống nhân tạo. Đặc biệt, đa số những địa danh này nằm trên địa bàn huyện Vân Đồn. Trong đó hiện nay tồn tại 28 địa danh bắt đầu bằng chữ Cống, có thể kể tên như: Cống Chéo, Cống Chui, Cống Đá, Cống Đình, Cống Nứa, Cống Sách, Cống Thâu, Cống Thẻ, Cống Thỏ, Cống Yên v.v.. Nhìn chung, những địa danh này đều liên quan đến nước, là tên đảo, tên lạch biển, tên bến thuyền, tên hồ, chỉ có một số rất ít là tên núi hoặc tên thôn. Tỉnh nhà có 24 địa danh là phà hoặc đò, 72 địa danh là bến tàu, bến đò, bến sông, 17 địa danh là cảng sông hoặc cảng biển, 10 địa danh là ga tàu hỏa.

Trong ảnh: Đài liệt sĩ Pò Hèn, xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái.
Trong tiếng Tày, "Pò" có nghĩa là đồi. Trong ảnh: Đài Tưởng niệm liệt sĩ Pò Hèn, xã Hải Sơn, TP Móng Cái.

- Cách đặt tên cho một địa danh cũng có tính lịch sử và có thể thay đổi theo thời gian. Vậy theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào trong việc nghiên cứu ngôn ngữ?

+ Theo quan điểm của chúng tôi, từ ngôn ngữ của vùng có các dân tộc thiểu số sinh sống rất lâu đời sẽ hình thành các địa danh tên đất, tên làng, tên xóm mà họ đang sinh sống. Vì thế có thể khẳng định mối tương quan rất chặt chẽ giữa ngôn ngữ và địa danh.

Mỗi địa danh ra đời trong một hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất định nên nó phản ánh nhiều mặt khung cảnh xã hội ở xung quanh. Trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, những biến cố về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ đã được lưu giữ trong địa danh. Vì thế, có người cho rằng địa danh là “đài kỷ niệm”, là “tấm bia bằng ngôn ngữ” độc đáo về thời đại của mình. Tôi lấy ví dụ sông Bạch Đằng đã 3 lần cha ông ta chiến thắng ngoại xâm nhưng tên của nó thì đã thay đổi (từ Vân Cừ, sông Rừng đến Bạch Đằng - PV). Như thế, rõ ràng cùng một địa bàn, tên đất, tên làng thay đổi đã được ghi nhận. Về mặt ngôn ngữ, việc nghiên cứu địa danh cho ta biết thêm nhiều từ cổ hiện nay không còn hay các địa danh có nguồn gốc dân tộc thiểu số, các địa danh đã biến đổi cách phát âm, cách viết.

Sông Bạch Đằng đã được đổi tên nhiều lần trong lịch sử.
Sông Bạch Đằng đã được đổi tên nhiều lần trong lịch sử.

- Địa danh còn phản ánh nhiều mặt về lịch sử và văn hóa. Điều này có đúng không thưa ông?

+ Nghiên cứu địa danh cũng sẽ phần nào giải mã được tính đa dạng và thống nhất của văn hóa Quảng Ninh trong mối quan hệ giao lưu, tiếp xúc với văn hóa các tộc người Bách Việt, văn hoá của các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh, văn hóa Trung Hoa, văn hoá Pháp và phương Tây.

Phương thức định danh và cấu tạo từ, địa danh ở Quảng Ninh phần nào phản ánh đặc trưng và sự phát triển của tiếng Việt. Điều này thể hiện qua số lượng từ ngữ phong phú, đa dạng bởi quá trình sử dụng những từ ngữ sẵn có trong tiếng Việt, vay mượn có chọn lọc các ngôn ngữ bản địa và nước ngoài, sáng tạo bằng cách kết hợp nhiều yếu tố với nhau. Nhiều địa danh cũng bị Pháp hóa, Hán hóa theo lối phiên âm, dịch nghĩa… Những tên gọi đã được Việt hóa này là nguồn tư liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu quá trình tiếp xúc giữa tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc thiểu số với tiếng Việt trong lịch sử. Qua đặc điểm phản ánh hiện thực và nguồn gốc, ý nghĩa của một số địa danh, ta thấy tính dân gian, dân tộc được thể hiện khá rõ nét trong hàng loạt các tên gọi ở Quảng Ninh.

Quảng Ninh có một số địa danh xuất phát từ tiếng Pháp, ví dụ như Sa-tô (ở phường Cao Xanh, TP Hạ Long), Xẹc-lồ (phường Hà Tu, TP Hạ Long) hay Loong Toòng (phường Trần Hưng Đạo). Còn rất nhiều địa danh là tên đường, tên phố khác nữa mà chỉ Quảng Ninh mới có, như: An Hưng, Bãi Cháy, Đặng Bá Hát, Đồi Cao Văn Hóa, Kênh Liêm, Kênh Đồng, Ký Con, Năm Cống, Tuần Châu, Vua Bà, Vũng Đục, Đặng Châu Tuệ, Võ Huy Tâm, Cột 5 v.v.

- Việc đổi tên địa danh sẽ ít nhiều gây ra sự xáo trộn đời sống xã hội ở địa phương. Vậy ông có khuyến nghị gì về vấn đề này?

+ Mỗi lần đổi tên, thành lập mới, chia tách hoặc sáp nhập đơn vị hành chính sẽ có địa danh mới ra đời. Tới đây, trung ương đã có chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã không đủ điều kiện về diện tích, dân số theo quy định. Khi thực hiện ở cơ sở sẽ có chuyện đặt tên cho địa danh mới ra đời. Vì vậy, tôi đề nghị cần có người có chuyên môn tham mưu cho công việc này. Và hơn nữa nên tận dụng tên đã thành tiềm thức trong nhân dân, trong lịch sử địa phương, không nên đặt tên kiểu phong trào hay theo kiểu danh số (số thứ tự). Hiện tại, Quảng Ninh có 64 phường, xã đang lấy số tự nhiên đặt tên cho khu, trong đó 13 xã đặt tên cho các thôn theo số thứ tự...

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Phạm Học (Thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.