Trả lại tên cho các di sản nhà Trần tại Đông Triều

Thứ Năm, 14/06/2018, 14:00 [GMT+7]
.
.

Thông qua khai quật khảo cổ học, sự thật lịch sử các di sản nhà Trần tại Đông Triều với quy mô, cấu trúc cũng như tính chất của chúng đã được hé mở. Cùng với đó, việc trả lại tên gốc cho các di sản và những địa danh đi kèm vốn bị mai một theo thời gian là hết sức cần thiết, ý nghĩa.

f
Thái lăng nằm trên đảo nhỏ giữa hồ Trại Lốc, được người dân gọi là đảo Vua.

Thái lăng (lăng mộ của vua Trần Anh Tông) được xây dựng sớm nhất trong quần thể các lăng mộ vua Trần tại Đông Triều năm 1320. Sử cũ ghi lại thì lăng xây trên một quả đồi thấp có tên là đồi Trán Quỷ. Tuy nhiên, việc xây dựng đập Trại Lốc vào những năm 80 của thế kỷ trước đã làm khu vực này trở thành một hồ nước lớn, đồi Trán Quỷ trở thành ốc đảo, trên đảo có lăng vua vì thế người dân địa phương gọi là đảo Vua.

Thạc sỹ Nguyễn Văn Anh, giảng viên Trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội), người tham gia khai quật khảo cổ Thái lăng và nhiều di sản nhà Trần tại Đông Triều, phân tích: Ghi chép xưa cho biết lăng của vua Trần Anh Tông được táng tại xứ đồng Thái. Xứ đồng có nghĩa tương đương với cánh đồng hoặc khu đồng, ở đây có thể hiểu khu đất xung quanh Thái lăng được gọi là xứ đồng Thái lăng hay xứ đồng Thái. Ban đầu, người ta đã dùng tên của lăng (Thái lăng) để gọi tên của xứ đồng (đồng Thái lăng), rồi sau đó, người ta lại dùng tên xứ đồng để gọi tên lăng (Đồng Thái lăng)...

f
Tên của đền An Sinh gắn với vùng đất phong cho An Sinh Vương Trần Liễu.

Khi lăng được xây dựng, tên lăng trở thành tên địa danh của một khu vực hoặc ngọn núi nơi xây dựng lăng và ngược lại như trường hợp Thái lăng được Thạc sỹ Nguyễn Văn Anh cho là khá phổ biến ở Đông Triều. Như với Phụ Sơn lăng (lăng vua Trần Dụ Tông), từ Phụ Sơn (núi Phụ), về sau người ta lại dùng chính địa danh để gọi thành tên lăng nên Phụ lăng thành Phụ Sơn lăng. Rồi Mục lăng (lăng vua Trần Minh Tông) còn được gọi là Đồng Mục lăng cũng vậy, tức là sau khi lăng được xây dựng, vùng đất xung quanh khu lăng được gọi là xứ đồng Mục lăng và được gọi tắt là đồng Mục, sau đó người ta lại sử dụng chính tên của xứ đồng để gọi thành tên lăng. Ngải Sơn lăng (lăng vua Trần Hiến Tông) cũng có chung logic chuyển đổi ấy.

Chính vì vậy, sau khi nghiên cứu, khai quật khảo cổ lăng Tư Phúc (tương truyền là nơi an táng của vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Giản Định đế), các nhà khoa học đã đề xuất lấy lại tên gốc cho ngọn đồi có lăng là Tư Phúc sơn. Bởi lẽ, người dân sinh sống tại khu vực này là dân mới định cư, không biết đến tính chất sâu xa của di tích. Vì vậy, bà con thường gọi đây là đồi Mít, hay đồi Tập Bắn đơn giản bởi vì nơi đây trồng nhiều mít và trong giai đoạn kháng chiến, ngọn đồi là nơi diễn tập của lực lượng pháo binh.

f
Am Ngoạ Vân (ảnh trên) và chùa Ngoạ Vân (ảnh dưới) nằm trong một tổng thể hoàn chỉnh với am, tịnh thất nơi vua Trần tu hành và có chùa thờ Phật.

Quần thể di sản nhà Trần tại Đông Triều có 14 điểm di tích nằm chủ yếu ở khu vực đồi núi phía Bắc của thị xã trẻ. Qua tìm hiểu cho thấy, những cái tên di sản thường mang ý nghĩa sâu xa hơn là một cái tên thuần tuý. Cùng với hệ thống lăng mộ với những cái tên gắn với địa danh thì một số di tích cũng tương tự như đền (điện) An Sinh được đặt tên gắn với vùng đất phong cho An Sinh Vương Trần Liễu, chùa Trung Tiết gắn với câu chuyện về hai vị trung thần của nhà Trần, am – chùa Ngoạ Vân nằm trên đỉnh núi cao nên ngoài tên Bảo Đài sơn còn có tên Ngoạ Vân sơn, rồi Ngoạ Vân am, tức núi nằm trên mây, am nằm trong mây.

Ngoạ Vân vốn không phải di tích đơn lẻ, mà có hơn chục điểm di tích trải dài từ dưới chân lên tới đỉnh núi. Mỗi cái tên cũng có ý nghĩa riêng, như Phủ Am Trà tương truyền là nơi vua dừng chân uống trà nghỉ ngơi, Đô Kiệu là nơi đỗ kiệu, dừng kiệu để bắt đầu thượng sơn, Thông đàn với những hàng thông lớn, tiếng lá reo quanh năm trong gió tựa khúc nhạc của tự nhiên... Ở Ngoạ Vân hiện nay có 3 điểm di tích vẫn được gọi phổ biến là chùa Thượng (khu am Ngoạ Vân), chùa Trung (chùa mới trùng tu lại) và chùa Hạ (khu Đá Chồng). Cách gọi này căn cứ vào độ cao các điểm di tích, tuy nhiên sẽ tạo ra cách hiểu chưa chính xác.

f
Chùa Hạ qua khảo cổ xuất lộ một hệ thống kiến trúc chủ yếu vào thời Lê Trung hưng, có tính chất độc lập tương đối với các di tích khác trong quần thể Ngoạ Vân.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Anh lý giải: Với cách gọi như hiện nay, ta hiểu rằng con đường hành hương sẽ đi từ dưới đi lên, hơn nữa các điểm di tích chỉ cao – thấp khác nhau, còn đều là chùa cả. Kết quả khảo cổ học cho thấy không phải như vậy. Vị trí chùa Thượng chỉ là am – tháp, là một bộ phận, không phải một ngôi chùa độc lập. Chùa Trung chính là chùa Ngọa Vân với dấu tích kiến trúc trải dài từ thời Trần đến thời Lê Trung Hưng, thời Nguyễn. Khu am – chùa Ngoạ Vân tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh, có am, tịnh thất nơi vua Trần tu hành và có chùa thờ Phật. Chỉ khác là với đa số di tích thì am chỉ là nơi tu tập, rất đơn giản, nhưng với Ngoạ Vân thì am lại quan trọng nhất, vì là nơi sơ tổ Trần Nhân Tông nhập niết bàn, là thánh địa của Phật giáo Trúc Lâm. Còn khu chùa Hạ với hệ thống kiến trúc chủ yếu vào thời sau, thời Lê Trung hưng, có tính chất độc lập tương đối với các di tích khác trong quần thể Ngoạ Vân. Sau khi các công trình cũ sập đổ, hoang phế, do không đủ điều kiện xây dựng, trông nom, người đời sau đã gom các công trình về am Ngoạ Vân khiến người ta hiểu lầm tại đây có đủ am, chùa, tháp.

Rõ ràng, gọi đúng tên di tích sẽ cho chúng ta hiểu rõ hơn về tính chất cũng như vai trò của di tích đó. Vì vậy, thiết nghĩ TX Đông Triều cần có những giải pháp cụ thể trong tuyên truyền để tạo nhận thức đúng, từng bước thay đổi thói quen của người dân khi gọi, sử dụng tên các di sản và địa danh đi kèm đảm bảo chính xác, khoa học hơn.

Phan Hằng

.
.
.
.
.
.
.
.