Kỷ niệm 550 năm vua Lê Thánh Tông đề thơ lên vách núi Truyền Đăng

Bài thơ trên vách núi

Thứ Sáu, 30/03/2018, 12:15 [GMT+7]
.
.

Mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9, tức tháng 2/1468, vua Lê Thánh Tông có chuyến duyệt quân và tuần giá An Bang, tiếp nối công việc phòng thủ từ trước đó. Nhân chuyến duyệt quân này, đức vua đã sáng tác bài thơ và cho khắc trên vách núi Truyền Đăng.

Di chỉ bài thơ cổ của vua Lê Thánh Tông.
Bài thơ của vua Lê Thánh Tông đề trên vách núi Truyền Đăng.

Bài thơ của vua Lê Thánh Tông được khắc trên một vách đá khá phẳng, cách mặt đất chừng 2,5 m. Bài thơ thất ngôn bát cú gồm 56 chữ Hán, có 21 chữ đã mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị mờ. May mắn, bài thơ trên có chép trong thư tịch cổ, nên đó chính là chỗ dựa của các nhà nghiên cứu. Nguyên văn bài thơ như sau: “Cự lãng uông uông triều bách xuyên/ Quần sơn cơ bố bích liên thiên/ Tráng tâm sơ cảm hàm tam cổ/ Tín thủ dao đề tốn nhị quyền/ Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ/ Hải Đông phong toại tức lang yên/ Thiên nam vạn cổ hà sơn tại/ Chính thị tu văn yển vũ niên”.

Bài thơ được tạm dịch ý như sau: “Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào/ Núi non la liệt, rải rác như quân cờ, vách đá liền trời/ Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ Hàm hào cửu tam (đã định)/ Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió/ Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên/ Vùng biển phía Đông, khói chiến tranh đã tắt/ Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững/ Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn”.

Bản phục chế bài thơ của Hội VHNT Quảng Ninh.
Bản phục chế bài thơ của Hội VHNT Quảng Ninh.

Không chỉ là một tác phẩm văn học, bài thơ trên vách đá Truyền Đăng của vua Lê Thánh Tông còn là một tuyên ngôn về hòa bình và xây dựng đất nước. Theo Giáo sư Nguyễn Huệ Chi (Viện Văn học), bài thơ có tính chất một bài tuyên cáo với thiên hạ về tư thế lịch sử của thời đại và thế đứng của triều đại nhà Lê thời Lê Thánh Tông. Tư tưởng ấy dồn vào hai câu thơ cuối: Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại/ Chính thị tu văn yển vũ niên”. Vua Lê Thánh Tông đã thể hiện tư tưởng lớn chuyển hướng chiến lược của đất nước từ sau chiến thắng quân Minh sang xây dựng hòa bình và củng cố quốc phòng. Theo nghĩa đó, “tu văn” có thể hiểu là dồn lại điều chỉnh lại nền chính trị cho phù hợp với hoàn cảnh mới của đất nước, xây dựng và phát triển nền văn hóa. Yển vũ là gác lại việc võ, sắp xếp lại nền quốc phòng thời bình.

Cũng theo Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, bài thơ của Lê Thánh Tông không phải chỉ là một lời tuyên ngôn về nền độc lập vĩnh hằng của non sông xã tắc mà còn là lời tuyên ngôn giàu chất dự báo về một dân tộc đang đi dần vào quỹ đạo của lịch sử: Một dân tộc đã từng hoặc chưa từng nhưng nhất định sẽ tìm thấy con đường đi tới chủ nghĩa nhân văn cao đẹp của cộng đồng nhân loại.

Một ngôi đền khang trang vừa được xây dựng tại địa điểm có vách đá đề thơ.
Một ngôi đền khang trang vừa được xây dựng tại địa điểm có vách đá đề thơ.

Bài thơ của vua Lê Thánh đã khơi nguồn sáng tạo cho hậu thế về An Bang xưa nên người đời sau còn đến đây làm thơ để họa lại, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và tôn vinh bài thơ. Tưởng nhớ công lao của một nhà vua anh minh, nhân dân đã đặt tên cho ngọn núi ngài đã đề thơ là núi Bài Thơ. Sau này, tỉnh Quảng Ninh chọn ngày 29/3 - ngày mà nhà vua đã đến An Bang là Ngày Thơ Quảng Ninh, đặt tên cho một câu lạc bộ thơ và một giải thơ phong trào là Lê Thánh Tông. Ngày thơ Quảng Ninh cũng là một trong những gợi ý quan trọng để có Ngày thơ Việt Nam.

Cùng với đó, con cháu dòng họ Lê và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát tâm công đức xây dựng đền thờ vua Lê Thánh Tông dưới chân núi năm xưa. Nơi ấy gọi là Khu Văn hóa núi Bài Thơ, hằng năm diễn ra các hoạt động tôn vinh đạo học, biểu dương những sáng tạo văn chương nghệ thuật của giới trẻ và văn nghệ sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao đối với văn nghệ sĩ cũng như nhân dân Vùng mỏ.

Mới đây nhất, Hội đồng thẩm định của Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã đề xuất: Đây là bài thơ của một vị vua nổi tiếng được khắc trên vách núi trông ra biển lớn, nhiều vương triều phong kiến quan tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc, gắn liền với những sự kiện lịch sử của dân tộc nên có thể coi là di sản quý báu của Quảng Ninh. Bởi vậy, sau khi phục chế được, cần có lộ trình đưa bài thơ cổ này thành Bảo vật quốc gia.

Phạm Học

.
.
.
.
.
.
.
.