Thợ mỏ vẽ tranh

Chủ Nhật, 14/05/2017, 00:46 [GMT+7]
.
.

Phong trào mỹ thuật Quảng Ninh qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển từ những lớp học vẽ cho công nhân do các hoạ sĩ trung ương về dạy. Từ đây, phong trào đã lớn mạnh và Quảng Ninh trở thành một trung tâm mỹ thuật công nhân của cả nước.

Một số tác phẩm mỹ thuật của các hoạ sĩ từng là công nhân được giới thiệu tại Bảo tàng Quảng Ninh vào tháng 4-2017.
Một số tác phẩm mỹ thuật của các hoạ sĩ từng là công nhân được giới thiệu tại Bảo tàng Quảng Ninh vào tháng 4-2017.

Hoạ sĩ Lê Vân Hải nguyên là lái xe gạt ở mỏ than Đèo Nai trong những năm 1962-1966 được nhiều lần thụ giáo các hoạ sĩ gạo cội như: Trần Văn Cẩn, Nguyễn Sáng, Nguyễn Tư Nghiêm về Quảng Ninh mở lớp vẽ công nhân. Hoạ sĩ Lê Vân Hải kể rằng công nhân mỏ lúc đó rất say mê vẽ ít nhất lúc nào cũng có 40 công nhân đến học ở lớp vẽ.

Nhờ sự quan tâm của tỉnh và của ngành Than, lực lượng hoạ sĩ Quảng Ninh tiếp tục được bổ sung thêm từ chính những người thợ mỏ yêu hội hoạ như Lê Vân Hải. Một số lần lượt được đào tạo và vượt lên mọi khó khăn để sáng tác như: Đinh Đức Thọ, Lý Ngọc Thanh, Trần Thanh Toàn, Lê Chuyền, Duy Mạnh, Trần Công Phú, Xuân Hương, Tống Giang Minh v.v.. Riêng những cây cọ như: Nguyễn Hoàng, Bùi Đình Lan, Ngô Phương Cúc, Hoàng Ngọc Châu, Phạm Phi Châu vừa phải làm chuyên môn ở các mỏ vừa miệt mài sáng tác tranh.

Trong đó có thể nói, gần như tất cả những gì hoạ sĩ Nguyễn Hoàng vẽ về hầm lò, vẽ khai trường đều là vẽ thuộc, nghĩa là vẽ theo trí nhớ. Bởi vì trước kia mỗi khi đi lò hoạ sĩ luôn mang theo bút chì và mẩu giấy để ký hoạ, sau này vẽ lại. Vì thế, nhìn vào tranh của Nguyễn Hoàng người ta nhận ra ngay nét quen thuộc với cấu trúc hầm lò, thao tác của người thợ mỏ. Ông vẽ cảnh hầm sâu với không gian dồn nén, với sự tranh chấp giữa ánh sáng và bóng tối dày đặc và cả ánh đèn lò hắt sáng. Nguyễn Hoàng đã vẽ người thợ mỏ với cái nhìn của người trong cuộc bằng cả tấm lòng của người “chung trận tuyến” với bút pháp chất phác, hồn hậu. Các tác phẩm chính của ông là “Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm mỏ Hà Lầm”, “Chế tác từ than mỏ”, “Thợ lò” v.v..

Cùng với Nguyễn Hoàng, hoạ sĩ Bùi Đình Lan đã được biết đến từ những thập niên 50 của thế kỷ trước qua cuộc triển lãm tranh bột màu về Vùng mỏ. Sau đó, ông còn đến với tranh lụa và được chú ý bởi một tay nghề chắc và khả năng cảm thụ nghệ thuật tốt. Bùi Đình Lan vẽ bằng tâm hồn trong sáng tình cảm chân thành đối với người thợ mỏ. Vì vậy, ông có nhiều bức vẽ về mỏ rất thành công như: “Đổi ca”, “Đón choòng”, “Đường lên mỏ”, “Cuộc đình công của thợ mỏ Cẩm Phả năm 1936”, “Khai thác than”, “Chuyển than”, “Ca đêm”, “Nữ công nhân”, “Bác Hồ thăm mỏ Đèo Nai” v.v..

Trong khi đó, hoạ sĩ Phạm Phi Châu lại có những thể nghiệm nghiêng về lối vẽ kiểu trang trí. Tranh của ông thể hiện sự hài hoà giữa nhận thức và cảm thụ khoáng đạt thường để cho cảm xúc dẫn dắt nhiều nên có bút pháp phong phú, hình thức nghệ thuật không được định trước, đề cập đến nhiều khía cạnh của đời sống Vùng mỏ. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là “Hai người thợ lò”, “Trong hầm lò” v.v..

Ngược lại, hoạ sĩ Ngô Phương Cúc lại có lối vẽ tỉ mỉ trong diễn tả. Các hầm lò mỏ lộ thiên đều được vẽ đầy đủ chi tiết thậm chí có thể đếm được từng hòn đá, từng vết xe. Bởi thế, ông hay tạo ra một không gian thực dựa trên các thủ pháp đắp, gắn, tỉa. Hoạ sĩ Ngô Phương Cúc gần như cả đời ông chỉ vẽ về mỏ Hà Tu với các bức tranh được đánh giá cao như: “Máng than Lộ Phong”, “Máy xúc 2 Hà Tu” và “Công trường than”...

Nguyễn Hoàng, Bùi Đình Lan, Ngô Phương Cúc có nhiều điểm chung như đều là công nhân, đều tham gia lớp vẽ phong trào thời kỳ đầu do các hoạ sĩ Trung ương về thực tế lao động và sáng tác giảng dạy. Cả 3 người họ cùng gắn bó cả đời cũng như vẽ nhiều, vẽ thành công nhất về đề tài Vùng mỏ và người công nhân, góp phần làm nên một giai đoạn phát triển rực rỡ của mỹ thuật tỉnh nhà những năm 80... Nhờ trưởng thành từ công nhân cầm cọ và lại vẽ về công nhân mỏ và đời sống thợ thuyền nên nhiều hoạ sĩ đã đoạt giải cao trong các triển lãm, cuộc thi như: Hoạ sĩ Nguyễn Hoàng công nhân mỏ Hà Lầm đạt giải bạc trong triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1980; hoạ sĩ Ngô Phương Cúc, công nhân mỏ Hà Tu đạt giải khuyến khích năm 1980; hoạ sĩ Bùi Đình Lan, công nhân mỏ Đèo Nai đạt huy chương đồng triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1985; hoạ sĩ Lê Vân Hải, công nhân mỏ Đèo Nai đoạt huy chương đồng triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1985.

Bước vào những năm cuối thế kỷ trước, phong trào vẽ tranh của công nhân lắng xuống nhưng đội ngũ hoạ sĩ chuyên nghiệp trưởng thành từ thợ mỏ vẫn đều đặn có tranh tham gia các triển lãm. Lý giải cho hiện tượng trước đây có nhiều công nhân mỏ yêu cây cọ vượt qua mọi khó khăn để nuôi niềm đam mê sáng tác tranh, hoạ sĩ Lê Vân Hải cho rằng: “Họ là những người công nhân từ thực tế trưởng thành, yêu quý tầng than, hiểu rõ cái đẹp của khai thác than nên muốn phác hoạ tình yêu đó bằng hội hoạ. Thêm nữa, Quảng Ninh là nơi thực tế sáng tác của nhiều bậc thầy hội hoạ nên anh em được cọ xát và nét cọ của anh em cũng trưởng thành hơn”.

Nhờ những đóng góp của những hoạ sĩ vốn là thợ mỏ mà mỹ thuật Quảng Ninh đã đạt được nhiều thành tựu đóng góp một dấu ấn cho mỹ thuật cả nước. Vì thế Quảng Ninh là một tỉnh có phong trào mỹ thuật mạnh nhất toàn quốc, có phong trào tạo hình riêng biệt của mỹ thuật công nhân.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.