Nghệ nhân dân gian - Những người thầy đặc biệt

Chủ Nhật, 20/11/2016, 19:05 [GMT+7]
.
.

Không chỉ nắm giữ, thực hành di sản văn hoá phi vật thể, nghệ nhân dân gian còn là những người truyền dạy vốn quý văn hoá đó. Về lĩnh vực truyền dạy, họ là những người thầy đặc biệt, trực tiếp cầm tay chỉ việc tận tình hàng ngày, hàng giờ mà không nhận một đồng thù lao nào.

Nghệ nhân ưu tú Đặng Thị Tự (áo vàng, ngồi giữa) truyền dạy hát nhà tơ tại Đầm Hà trong một lớp tập huấn do Hội VNDG Quảng Ninh tổ chức.
Nghệ nhân ưu tú Đặng Thị Tự (áo vàng, ngồi giữa) truyền dạy hát nhà tơ tại Đầm Hà trong một lớp tập huấn do Hội VNDG Quảng Ninh tổ chức.

Hiện nay, Quảng Ninh có tổng số 43 nghệ nhân dân gian được Hội VNDG Việt Nam phong tặng và 21 nghệ nhân ưu tú được Chủ tịch nước phong tặng. Ngoài ra, còn hàng trăm nghệ nhân khác chưa được phong tặng vẫn say sưa hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ dân gian. Theo thống kê chưa đầy đủ của Hội VNDG tỉnh Quảng Ninh, hiện nay, tỉnh có trên 200 nghệ nhân dân gian lưu giữ gần 80 loại hình văn hoá văn nghệ dân gian. Được biết, Quảng Ninh là một trong những tỉnh có đông nghệ nhân dân gian được phong tặng nhất trong cả nước (so với bình quân 14 người/tỉnh ở phạm vi cả nước hiện nay).

Nghệ nhân dân gian thực sự là những “chuyên gia đầu ngành” trên nhiều loại hình khác nhau để hợp thành văn hoá văn nghệ dân gian. Họ là những “kiến trúc sư” thiết lập nên những công trình văn hoá phi vật thể. Ở Quảng Ninh hiện nay, có nhiều nghệ nhân văn nghệ dân gian lưu giữ các loại hình như: Hát đúm (ở TX Quảng Yên), hát giao duyên (TP Hạ Long), hát chèo cổ (TX Đông Triều), hát dân ca Dao (ở TP Uông Bí, huyện Hoành Bồ, huyện Tiên Yên), may thêu quần áo dân tộc Dao Thanh Y, hát dân ca Dao Thanh Y, nghi thức cấp sắc của dân tộc Dao (ở huyện Hoành Bồ, huyện Tiên Yên), hát then cổ của dân tộc Tày và hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ (ở Tiên Yên, Bình Liêu), hát nhà tơ, hát - múa cửa đình (ở các huyện Đầm Hà, Hải Hà, Vân Đồn và TP Móng Cái), nghệ nhân làm đồ sành sứ (ở TX Đông Triều), nghệ nhân đan thuyền nan, đan ngư cụ (ở TX Quảng Yên, huyện Vân Đồn). Nghệ nhân đã góp phần quan trọng tạo dựng cho Quảng Ninh một vùng văn hoá dân gian đa dạng, phong phú và đặc sắc.

Gần như toàn bộ các nghệ nhân nói trên đều tham gia truyền dạy văn hoá dân gian. Một số nghệ nhân tiêu biểu truyền dạy được nhiều học trò nhất là các cụ: Ngô Đức Nguyên, Đặng Thị Tự, Hoàng Thị Thảo, Trương Thị Phượng, Nguyễn Văn Giót, Sằn A Sẹc v.v.. Cụ Ngô Đức Nguyên lúc sinh thời là cán bộ văn hoá của huyện, về hưu đã nhớ lại và ghi chép được nhiều bài then cổ, mở được 3 lớp học bồi dưỡng cho gần 30 người ở địa phương hát then. Hay như Nghệ nhân ưu tú Đặng Thị Tự (96 tuổi, ở xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà) đã truyền dạy cho khoảng 150 học trò là thanh niên ở huyện Đầm Hà biết hát nhà tơ. Còn Nghệ nhân ưu tú Ngô Đăng Nhuận ở phường Phong Hải (TX Quảng Yên) mặc dù đã 86 tuổi nhưng vẫn rất tích cực tham gia các hoạt động VHVN và đã đào tạo được 25 học trò.

Nhìn chung, nghệ nhân dân gian Quảng Ninh đang sống trong các làng xã, khe bản, thôn xóm ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn. Thêm nữa, lớp người là nghệ nhân dân gian hiện nay của tỉnh ta đều ở tuổi 70-80 trở lên, có người đã gần chạm ngưỡng bách niên và đang thưa vắng dần do tuổi tác. Bởi vậy, việc nắm bắt để tuyên truyền khơi dậy và khai thác truyền thống văn hoá dân gian tại địa phương còn rất khó khăn, phân tán, thiếu tập trung. Nhận thức được điều đó, trong thời gian qua, Hội VNDG Quảng Ninh đã chú trọng khai thác các “báu vật nhân văn sống” là các nghệ nhân. Các hội viên đã dành nhiều thời gian để xuống dân, vào từng thôn cùng, xóm bản hẻo lánh, đến tận mỗi nhà dân v.v.. để phát hiện, tìm gặp những người đang nắm giữ các vốn quý văn hoá dân tộc.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Chủ tịch Hội VNDG Quảng Ninh, cho biết, nghệ nhân dân gian là những “báu vật nhân văn”, cần một sự quan tâm đặc biệt để động viên họ truyền dạy lại những di sản văn hoá phi vật thể đang nắm giữ. “Tôi mong có nhiều hơn nữa các chính sách ưu đãi đối với nghệ nhân dân gian. Trước mắt, hãy phong tặng cho những nghệ nhân danh hiệu nghệ nhân ưu tú để mỗi tháng họ được hưởng một phần phụ cấp nhất định, bằng tổ trưởng tổ dân phố thôi chẳng hạn. Số tiền bỏ ra nhỏ nhưng sự động viên các cụ là rất lớn”, ông Nguyễn Quang Vinh đề xuất.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.