Nhà biên kịch Thanh Đạm: "Tôi tiếc cái thời hoàng kim của sân khấu Quảng Ninh..."

Chủ Nhật, 01/12/2013, 07:11 [GMT+7]
.
.
Nhà viết kịch Thanh Đạm sinh năm 1936 tại huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Ngay trong thời gian còn ở trong quân ngũ, kịch tác gia Thanh Đạm đã bộc lộ khả năng sân khấu. Năm 1956, ông được cử đi học một lớp sáng tác kịch bản sân khấu trong quân đội. Trở lại đơn vị, ông vừa viết kịch bản, làm đạo diễn lại kiêm diễn viên của hàng chục vở kịch ngắn. Năm 1960, ông xuất ngũ và ra Vùng mỏ công tác, trở thành một cây bút viết kịch chuyên nghiệp góp phần đưa hình tượng người thợ mỏ và Vùng mỏ lên một tầm cao xứng đáng trên sân khấu nước nhà. Tính đến nay, ông đã viết được trên 200 vở kịch ngắn và hàng chục vở kịch dài. Nhiều vở đã được dựng và gây được tiếng vang. Năm 2000, ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao Động hạng Ba vì những đóng góp cho sân khấu.

Thanh Đạm là nhà viết kịch vào loại có thâm niên cao nhất ở Quảng Ninh hiện nay. Trong sự nghiệp cầm bút của mình, Thanh Đạm đã có nhiều vở kịch tạo được tiếng vang tại các hội diễn sân khấu trong tỉnh và toàn quốc. Hiện nay, dù sức khoẻ yếu không còn sáng tác được nhiều, nhưng ông vẫn rất say mê mỗi lần nói đến sân khấu...

Ông kể:

+ Từ khi thành lập tỉnh đến trước công cuộc đổi mới năm 1986 có thể nói là giai đoạn hoàng kim của sân khấu tỉnh nhà. Thời ấy, các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp Quảng Ninh đã được xây dựng và phát triển mạnh, hoạt động rất chuyên nghiệp, bài bản, nhiều vở diễn để đời, nhiều tài năng sân khấu xuất hiện…

- Vậy còn ông, vào những năm đó ông viết thế nào?

+ Tôi viết hăng lắm! Và cũng may mắn có được vài vở đã được dựng trong giai đoạn này, như: Kịch bản “Chị Ngần” (viết 1963 do Đoàn Cải lương Quảng Ninh dựng). Kế đến là “Tiếng hát thợ mỏ (Đoàn Kịch Quảng Ninh dựng năm 1969); “Thăm dò chiều sâu” (viết năm 1968, do Đoàn Kịch Đài Tiếng nói Việt Nam dựng); “Vỉa than ngầm” (viết 1970, Đoàn Kịch nghiệp dư mỏ Cẩm Phả dựng để dự thi trong một Hội diễn không chuyên); “Chuyện bốn người lính” (Đoàn Kịch Công ty Tuyển than Cửa Ông dựng năm 1975, dự thi Liên hoan kịch chuyên nghiệp)...

- Những năm sau này thì sao, thưa ông?

+ Sau này tôi cũng có mấy vở, như: “Người không thể chết” (giải nhất Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam trao tặng năm 1995 - Đoàn Kịch nói Quảng Ninh dựng); “Cô đào hát và ông Đại tá” (do Đoàn Kịch Đài Tiếng nói Việt Nam dựng năm 2004); “Người đánh trống ngũ liên” (Đoàn Kịch nói Thanh Hoá dựng năm 2009). Vở kịch này sau đó lại được Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh ký hợp đồng kết hợp cùng nhà văn Giang Phong chuyển thể thành phim truyền hình dài 30 tập…

- Trong số các kịch bản đã viết, ông tâm đắc với tác phẩm nào nhất? 

+ Tất cả kịch bản của tôi đã in vào 3 tập. Sắp tới tôi cũng dự định in một tập cuối cùng. Đã là những “đứa con tinh thần” của mình, vậy nên “đứa” nào mà mình không yêu không quý? Nhưng có lẽ vở kịch được người xem nhớ đến nhất là “Người không thể chết”. Đây là vở kịch NSND Lê Hùng dựng cho Đoàn Kịch nói Quảng Ninh vào năm 1995. Vở này còn được Đoàn Kịch nói Quảng Ninh biểu diễn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cho Đại biểu Quốc hội xem trong kỳ họp thường kỳ, sau đó còn diễn cho gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem nữa…

- Gần đây ông có sáng tác thêm kịch bản nào mới không?

+ Vài năm trở lại đây, bệnh cao huyết áp của tôi nặng thêm, sức khoẻ không đảm bảo nữa. Tôi tiếc vì mình không thể viết được gì. Giá mà bây giờ trở lại được cái thời sôi nổi của sân khấu Quảng Ninh. Giá mà tôi còn sức khoẻ và hăng hái như thời ấy. Bây giờ tôi chỉ đọc và sửa kịch bản, góp ý cho các tác giả trẻ…

- Theo ông cái khó khăn lớn nhất trong việc viết kịch bản sân khấu hiện nay là gì?

+ Cái khó lớn nhất trong việc viết kịch bản là viết ra mà khó được dùng. Không giống như thời chúng tôi viết ra là được dùng, kịch bản sân khấu giờ còn khó hơn cả kịch bản phim truyền hình. Viết kịch bản đâu có như viết truyện, nó cần vốn sống phong phú, có kỹ năng nghề nghiệp lại phải biết nhạc, biết thơ và biết ít nhiều về đạo diễn sân khấu nữa. Để có vở diễn hay lại cần sự kết hợp của nhiều người, từ người viết kịch bản, đạo diễn, diễn viên, hoạ sĩ trang trí sân khấu, nhạc công v.v..

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Huỳnh Đăng (Thực hiện)

.
.
.
.
.
.
.
.