Kim ngạch xuất nhập khẩu: Nguy cơ không đạt kế hoạch

Thứ Bảy, 27/08/2016, 12:05 [GMT+7]
.
.

7 tháng năm 2016, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt 955 triệu USD, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch nhập khẩu đạt 1.286 triệu USD, giảm 5,6% so với cùng kỳ. Những con số này có thể xem như một sự dự báo về nguy cơ không đạt kế hoạch năm 2016 với các chỉ tiêu đã đề ra.

Kim ngạch XNK của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh giảm là do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Trong đó, giá cả hàng hoá là một trong những yếu tố quan trọng. Thực tế, hầu hết giá của các mặt hàng XNK từ đầu năm đến nay giảm so với cùng kỳ, nhất là các mặt hàng XNK chiếm số lượng lớn như: Sợi giảm 6,34%, xi măng giảm 4%, clinke giảm 17,63%, dăm gỗ giảm 27,3%, tinh bột giảm 9%, xăng A92 giảm 27,3%, dầu diesel giảm 28,3%, dầu mazut giảm 43%...

Giá cả, thị trường, chính sách… là những nguyên nhân khiến doanh nghiệp XNK gặp nhiều khó khăn. Trong ảnh: Sản xuất gốm xuất khẩu tại Công ty CP Gốm sứ Thành Đồng, TX Đông Triều.
Giá cả, thị trường, chính sách… là những nguyên nhân khiến doanh nghiệp XNK gặp nhiều khó khăn. Trong ảnh: Sản xuất gốm xuất khẩu tại Công ty CP Gốm sứ Thành Đồng, TX Đông Triều.

Nói rõ hơn về điều này, ông Trần Quang Khởi, Phó Giám đốc Công ty TNHH  KHKT Texhong Ngân Long (TP Móng Cái) cho biết: Do những tác động từ thị trường nên giá bán mặt hàng sợi bông của đơn vị những tháng đầu năm 2016 giảm 7,8% so với năm 2015. Cụ thể, giảm từ 2.571 USD/tấn xuống còn 2.358 USD/tấn. Vì thế, doanh nghiệp phải cắt giảm sản lượng sản xuất từ 10-20%, bố trí lao động hợp lý, tiết giảm các chi phí… Thêm vào đó, các doanh nghiệp XNK cũng phải đối mặt với sự sụt giảm các thị trường chủ lực. Đó là do kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, tài chính được thắt chặt, an ninh bất ổn… Ngoài thị trường XK là Trung Quốc có sự tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ là 5,8%, thì các thị trường còn lại là Singapore, Hồng Kông, Nhật Bản đều giảm (Singapore giảm 27,5%, Hồng Kông giảm 18,6%, Nhật Bản giảm 33%). Các thị trường NK như: Singpore giảm 3,4%, Hồng Kông giảm 35,6%...

Sự sụt giảm của các mặt hàng chủ lực như: Than, xăng dầu, hải sản… khiến cho hoạt động XNK nguy cơ không đạt kế hoạch. Đáng chú ý là việc than XK giảm mạnh do chính sách hạn chế XK than của Nhà nước. Giá than của Việt Nam thường cao hơn giá than trên thị trường thế giới nên khó cạnh tranh. Hiện nước XK than lớn như Indonesia, Úc, thuế xuất khẩu 0%, Trung Quốc 10%, Nga 5%, Mông Cổ 5-7%... còn Việt Nam phải chịu mức thuế suất 13%. Điều này khiến cho kim ngạch XK than liên tục giảm từ đầu năm đến nay. Chỉ riêng 7 tháng, than XK đã giảm tới 73,4% so với cùng kỳ. Thuế suất xăng dầu cũng giảm mạnh, tác động không nhỏ đến kim ngạch XNK của tỉnh. Trong khi đó, đây là mặt hàng NK chủ lực mang lại nguồn thu đáng kể cho tỉnh. Nguyên nhân là do thuế suất ưu đãi đối với xăng từ 35% giảm xuống 20%, dầu D.O từ 30% giảm xuống 10%, dầu mazut từ 35% giảm xuống 10% từ ngày 1-1-2016. Đặc biệt, từ ngày 18-3-2016, thuế suất NK xăng dầu tiếp tục giảm: Dầu D.O từ 10% xuống 7%, dầu F.O từ 10% xuống 7%. Cùng với đó, thuế suất thuế NK ưu đãi đặc biệt theo Hiệp định ATIGA của dầu D.O giảm từ 5%; thuế suất NK ưu đãi đặc biệt thực hiện Hiệp định VKFTA làm giảm thuế suất ưu đãi của xăng từ 20% xuống 10%. Do đó, giá trị NK xăng dầu 7 tháng qua đã giảm trên 38,3% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, những khó khăn còn do những bất cập của các chính sách XNK còn bất cập. Theo ông Nguyễn Đồng, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty Xăng dầu B12 thì hiện nay, các chính sách XNK thường xuyên thay đổi khiến không ít các doanh nghiệp lúng túng. Thêm vào đó, nhiều chính sách còn có những bất cập làm doanh nghiệp đã khó càng khó hơn. Đơn cử như Thông tư số 69/2016/TT-BTC ngày 6-5-2016 của Bộ Tài chính quy định phải làm thủ tục hải quan theo quy định đối với hàng hoá đưa vào, đưa ra kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hoá tại cảng Việt Nam. Chính quy định này gây khó khăn cho doanh nghiệp xác định đối tượng thực hiện mở tờ khai, thời gian giải quyết hàng hoá, chi phí mở tờ khai… khi cấp bán xăng dầu nội địa cho các tàu biển quốc tế.

Cơ sở hạ tầng còn hạn chế cũng là một trong những lý do khiến cho hoạt động XNK gặp khó. Cặp cửa khẩu Hoành Mô (Bình Liêu, Việt Nam) - Động Trung (Quảng Tây, Trung Quốc) chưa được công nhận là cặp cửa khẩu chính cũng như cửa khẩu Bắc Phong Sinh (Hải Hà) chưa được nâng cấp lên cửa khẩu chính. Do đó, hoạt động XNK thường xuyên ở thế bị động do những tác động từ cơ chế chính sách điều hành XNK qua cửa khẩu phụ, lối mở. Cơ sở hạ tầng thương mại (kho, bãi kiểm hoá, chứa hàng) tại khu vực các cửa khẩu hầu hết đều chật hẹp. Các cửa khẩu đều chưa có các cơ quan, thiết bị, phương tiện kiểm tra chuyên ngành khiến cho thời gian thông quan hàng hoá kéo dài, tăng chi phí lưu kho, bến bãi, bốc xếp. Điển hình là cảng Cái Lân (TP Hạ Long), đến nay cảng vẫn chưa quy hoạch xây dựng bãi đỗ xe chờ vào cảng làm hàng; hạ tầng giao thông kết nối với cảng như tuyến đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long, đoạn 600m từ cảng ra QL18, cầu vượt qua khu công nghiệp vào cảng đến nay chưa được hoàn thiện… Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp cho rằng việc Nhà nước chậm trả tiền hoàn thuế giá trị gia tăng cho lô hàng XK, chậm phê duyệt kế hoạch XK than, các thủ tục hành chính còn phức tạp... khiến các doanh nghiệp “khó chồng thêm khó”.

Khó khăn từ thực tế trên đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ tháo gỡ để hoạt động XNK có sự bứt phá trong những tháng còn lại mới có thể hoàn thành kế hoạch.

Cao Quỳnh

.
.
.
.
.
.
.
.