Quảng Ninh phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

Thứ Sáu, 04/09/2020, 11:39 [GMT+7]
.
.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, nếu như năm 2010, số doanh nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh mới chỉ có 291 đơn vị, thì đến năm 2020 đã tăng lên thành 841, chiếm 81,8% số lượng doanh nghiệp toàn ngành công nghiệp của tỉnh. Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có số lượng doanh nghiệp được phát triển lớn mạnh giai đoạn này, bao gồm: Chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa; sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; sợi dệt và dệt may. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh đang được xem là “điểm sáng” trong bối cảnh suy giảm kinh tế toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra.

Sản xuất, chế biến sản phẩm ruốc hàu tại Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thủy sản Quảng Ninh (Bavabi).
Chế biến sản phẩm ruốc hầu tại Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thủy sản Quảng Ninh (Bavabi).

Khẳng định lợi thế

Quảng Ninh luôn được Trung ương xếp vào nhóm các tỉnh có dư địa phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo lớn dựa trên nền tảng của ngành khai thác, chế biến than đã có từ thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, trước sức ép về nguồn tài nguyên than ngày một khan hiếm, cạn kiệt dần, bằng tư duy đổi mới, Quảng Ninh đã tận dụng tiềm năng, thế mạnh của địa phương, ban hành các chính sách khuyến khích, hỗ trợ, chủ động định hướng các nhà đầu tư, cộng đồng doanh nghiệp tiếp tục chuyển đổi mô hình phát triển, ứng dụng công nghệ, khoa học hiện đại vào sản xuất, chế biến, chế tạo, nâng cao giá trị trên mỗi sản phẩm.

Ứng dụng công nghệ hiện đại trong khai thác, sản xuất than tại Công ty CP Than Hà Lầm. Ảnh: Mạnh Trường
Ứng dụng công nghệ hiện đại trong khai thác, sản xuất than tại Công ty CP Than Hà Lầm.

Tổng nguồn vốn đầu tư toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2010-2020 của Quảng Ninh đạt gần 69.000 tỷ đồng, chiếm 13,29% tổng số vốn đầu tư trong toàn tỉnh, chiếm 28,7% trong tổng số vốn toàn ngành công nghiệp của tỉnh. Nếu như năm 2010, vốn đầu tư ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3.807 tỷ đồng, thì đến hết năm 2019 tăng gần gấp đôi, đạt 6.184 tỷ đồng. Đây là một con số rất lớn, trong bối cảnh nguồn vốn còn nhiều khó khăn.

Bà Nguyễn Thị Hiền, Giám đốc Sở Công Thương, cho biết: Qua tổng hợp của đơn vị, vốn đầu tư ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2010-2020 tăng bình quân xấp xỉ 6.900 tỷ đồng/năm, trong đó, giai đoạn 2012-2014 có số vốn đầu tư tăng mạnh nhất, trung bình đạt 9.100 tỷ đồng/năm. Đây cũng là giai đoạn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Quảng Ninh bắt đầu có bước chuyển dịch và phát triển mạnh mẽ đến ngày hôm nay.

Ghi nhận sự đột phá, phát triển trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phải kể đến các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác, bao gồm xi măng, gạch ngói, gốm sứ. Hiện nay, lĩnh vực này có 120 doanh nghiệp đang tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm cho 11.839 lao động/năm, với mức lương từ 5-10 triệu đồng/tháng. Nếu như trước đây, những doanh nghiệp này thường sản xuất manh mún, theo kiểu truyền thống, gây lãng phí nguồn tài nguyên, nhân lực, thậm chí gây ô nhiễm môi trường, thì đến nay, hầu hết đều ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, tăng tính cạnh tranh và xuất khẩu nước ngoài. Điển hình trong số này phải kể đến các doanh nghiệp: Gốm Đất Việt, Viglacera Hạ Long, Xi măng Cẩm Phả…

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Quảng Ninh đã tham gia giải quyết công ăn việc làm cho 54.213 lao động mỗi năm. Một số ngành thu hút nhiều lao động, như: Dệt 11.678 lao động; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 11.839 lao động; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 8.134 lao động; chế biến thực phẩm 2.133 lao động.

Chế biến, đóng gói chè hoa vàng tại Công ty kinh doanh lâm sản Đạp Thanh (Ba Chẽ).
Chế biến, đóng gói trà hoa vàng tại Công ty Kinh doanh lâm sản Đạp Thanh (Ba Chẽ).

Theo tính toán của các ngành chức năng, trong giai đoạn 2010-2020, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo xuất khẩu chiếm trung bình gần 70% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh, đặc biệt là đã dần thay thế các sản phẩm của ngành khai thác khoáng sản, xăng dầu. Năm 2010, giá trị xuất khẩu hàng hóa ngành chế biến, chế tạo đạt 573 triệu USD, thì đến hết năm 2020, giá trị xuất khẩu ước đạt gần 1,9 tỷ USD.

Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh tăng bình quân giai đoạn 2010-2020 đạt 12,5%/năm (chiếm 9,9% cơ cấu kinh tế), từ 3.697 tỷ đồng năm 2010, tăng lên 17.812 tỷ đồng năm 2019 và ước đạt 20.269 tỷ đồng vào năm 2020.

Đón bắt thời cơ, vận hội mới

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, Quảng Ninh đang có nhiều lợi thế để phát triển mạnh mẽ, vượt trội ngành công nghiệp chế biến, chế tạo khi có hệ thống các cảng biển, dịch vụ logistics, các khu công nghiệp, đường cao tốc và đặc biệt là hệ thống các cặp cửa khẩu song phương với Trung Quốc, tạo thành chuỗi dây chuyền, liên kết khép kín. Tuy nhiên để hiện thực hóa mục tiêu trên, tỉnh cần khắc phải khắc phục được một số yếu điểm hiện hữu.

Nếu nhìn vào bức tranh tổng thể, có thể thấy, sản phẩm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo tại Quảng Ninh tuy có giá trị và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhưng giá trị tăng thêm của ngành này đóng góp vào GRDP lại chưa tương xứng. Một ví dụ điển hình là, trong năm 2019, tuy chiếm tỷ trọng lớn trong hàng hóa xuất khẩu (trên 80%) nhưng tỷ trọng giá trị tăng thêm của ngành đóng góp vào GRDP tỉnh rất khiêm tốn (9,2%).

Sản xuất, đóng gói sản phẩm gạch men chất lượng cao tại Công ty CP Gốm Đất Việt. Ảnh: Mạnh Trường
Sản xuất gạch chất lượng cao tại Công ty CP Gốm Đất Việt.

Nguyên nhân là do đa phần các doanh nghiệp đóng góp tỷ trọng lớn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại Quảng Ninh là các doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp này chủ yếu dùng thiết bị máy móc, công nghệ, nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ nước ngoài, làm giảm giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu. Thêm vào đó, trong 24 mã ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh, nhiều mã ngành chưa đáp ứng được kỳ vọng, theo kịp xu hướng phát triển của thế giới, như: Công nghiệp chế biến nông, thủy sản; đóng tàu; sản xuất máy móc thiết bị mỏ.

Riêng đối với ngành công nghiệp chế biến nông, thủy sản, cơ bản các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở sơ chế và chế biến thô, chưa có chiến lược phát triển sản phẩm chế biến sâu phục vụ cho xuất khẩu; chưa tạo được mối liên kết có hiệu quả và ổn định giữa các doanh nghiệp chế biến với cơ sở sản xuất nguyên liệu đầu vào và thị trường đầu ra.

Việt Nam đã chính thức tham gia Hiệp định CPTPP, Hiệp định EVFTA và sắp tới là Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEF), đây là cơ hội song cũng là thách thức lớn đối với Quảng Ninh trong việc thúc đẩy phát triển các sản phẩm xuất khẩu, nhất là đối với các mặt hàng nông, thủy sản, dệt may, đồ gỗ, máy móc có nhiều lợi thế cạnh tranh.

Chế biến, đóng gói hầu sữa Thái Bình Dương tại Công ty Đầu tư phát triển sản xuất Hạ Long (Tập đoàn Bim). Ảnh: Mạnh Trường
Chế biến hầu sữa Thái Bình Dương tại Công ty Đầu tư phát triển sản xuất Hạ Long.

Trước tình hình này, Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương rà soát, đánh giá thực trạng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh, qua đó tham mưu cho tỉnh chỉ đạo, thúc đẩy phát triển mạnh mẽ gắn với các quy hoạch, chiến lược phát triển của địa phương.

Quan điểm của Quảng Ninh, sẽ phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với cơ cấu hợp lý theo ngành, có khả năng cạnh tranh, ưu tiên thu hút doanh nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ sạch, ít hao hụt tài nguyên, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở một số chuyên ngành, lĩnh vực, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và xuất khẩu. Đặc biệt, sẽ quản lý, khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên hữu hạn, nhất là khoáng sản, đất đai. Khai thác than đi vào chiều sâu, ứng dụng công nghệ hiện đại, giảm bớt lao động, đảm bảo an ninh năng lượng. Hoàn thiện quy hoạch tỉnh, dùng quy hoạch để đánh thức, khai thác các nguồn lực tiềm ẩn, nhất là các không gian, vùng đất còn chậm chuyển biến.

Mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP của tỉnh đạt 15%; đến năm 2030 đạt 20%. Thu hút vốn đầu tư trong giai đoạn 2020-2025 đạt trên 45.000 tỷ đồng (bình quân trên 9.000 tỷ đồng/năm); giai đoạn 2025-2030 đạt trên 30.000 tỷ đồng (bình quân trên 6.000 tỷ đồng/năm). Tốc độ tăng năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020-2025 đạt 15-17%/năm; giai đoạn 2025-2030 đạt 17-20%/năm.

Đây sẽ là động lực để Quảng Ninh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, kinh tế xanh, góp phần xây dựng Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030.

Mạnh Trường

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.