Phát triển công nghiệp chế biến: Cần đầu tư xứng tầm

Thứ Bảy, 25/07/2020, 08:32 [GMT+7]
.
.

Đại dịch Covid-19 khiến nhiều loại nông sản của Quảng Ninh bị tồn đọng, nhất là mặt hàng thủy sản. Vì vậy, việc phát triển công nghiệp chế biến chính là định hướng đúng đắn, không chỉ góp phần nâng cao giá trị nông sản, mà còn giúp ngành Nông nghiệp thích nghi với tình hình mới.

Nước mắm Sá Sùng Cái Rồng Vanbest, huyện Vân Đồn có chất lượng cao, được giới thiệu rộng rãi ở thị trường trong nước.
Nước mắm sá sùng Cái Rồng Vanbest (huyện Vân Đồn) có chất lượng cao, được giới thiệu rộng rãi ở thị trường trong nước.

Có thể thấy, với thế mạnh là đa dạng về sản phẩm nông nghiệp, tỉnh Quảng Ninh đang có những giải pháp chiến lược, nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững ngành nông nghiệp trên cơ sở khai thác tốt những lợi thế, tiềm năng. Nhất là áp dụng khoa học công nghệ, nhằm tăng năng suất, đảm bảo chất lượng, nâng cao được tính cạnh tranh của hàng hóa nông sản.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, toàn tỉnh hiện có 420 cơ sở sơ chế, chế biến nông sản. Nhiều sản phẩm như rau an toàn, sữa tươi, trứng gà, trứng vịt, hàu, tôm, ghẹ, sá sùng… được các chủ cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, nông dân quan tâm, đầu tư bài bản và hiệu quả vào quy trình chế biến, bảo quản, đóng gói. Tiêu biểu như: Công nghệ sấy bột dong riềng cho các hộ sản xuất miến dong Bình Liêu; chế biến ruốc hàu, ruốc tôm; công nghệ chế biến na dai Đông Triều thành một số sản phẩm bơ, kem, sữa; công nghệ sấy lúa; hạ thủy phần mật ong tại HTX Mật ong Thống Nhất...

Bên cạnh đó, các sở, ngành cũng tăng cường phối hợp với các viện nghiên cứu tổ chức các hội thảo, hội nghị giới thiệu công nghệ bảo quản, chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh, nhằm giảm tổn thất cho các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, HTX trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ vậy, các mặt hàng nông sản, nhất là sản phẩm OCOP, sản phẩm có thế mạnh của tỉnh, ngày càng đứng vững, vươn ra các thị trường lớn, nhờ đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chế biến, bảo quản.

Mặc dù đã được quan tâm, đầu tư, tuy nhiên để đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng cao, nhất là ở các thị trường “khó tính” như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc… ngành công nghiệp chế biến nông sản vẫn còn một số khó khăn. Trong đó, phần lớn các cơ sở sản xuất, chế biến có quy mô nhỏ lẻ, mới chỉ sơ chế và xuất bán nguyên liệu thô bằng phương pháp thủ công truyền thống. Công nghệ chế biến cũng đang là khâu yếu nhất trong chuỗi giá trị ngành chăn nuôi khi chưa có nhiều cơ sở chế biến, giết mổ tập trung. Đa số nông dân vẫn chưa nhận thức đúng về việc thực hiện quy trình sản xuất khép kín từ khâu gieo trồng đến thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Riêng với mặt hàng thủy sản, ngành công nghiệp chế biến chưa phát triển xứng với tiềm năng. Hiện Quảng Ninh là địa phương có sản lượng xuất khẩu thủy sản tương đối lớn, tuy nhiên, giá trị kim ngạch chế biến xuất khẩu thấp. Tính đến năm 2019, sản phẩm thủy sản chế biến xuất khẩu đạt khoảng 25,5 triệu USD/năm, bằng 12% so với tổng giá trị xuất khẩu thủy sản. Nguyên nhân là do việc chế biến thủy sản còn gặp khó khăn, chưa có nhiều cơ sở chế biến sâu, thiếu nguyên liệu. Hiện nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu của tỉnh rất thấp, chỉ khoảng 25%, số còn lại được xuất khẩu theo dạng thô sang các thị trường lân cận.

Sơ chế rau tại Cơ sở sản xuất rau thuỷ canh Green farm 188 (TX Đông Triều). Ảnh: Vũ Hoàng Hiệp - CTV.
Sơ chế rau tại Cơ sở sản xuất rau thuỷ canh Green farm 188 (TX Đông Triều). Ảnh: Vũ Hoàng Hiệp (CTV)

Trước thực trạng đó, tỉnh Quảng Ninh đã và đang nỗ lực thực hiện những giải pháp chiến lược trên cơ sở khai thác tốt lợi thế, tiềm năng của địa phương. Dự kiến, đến năm 2030, tỉnh phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn, khuyến khích phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ gắn với xây dựng nhà máy chế biến để giảm chi phí sản xuất cho những sản phẩm ngành hàng chủ lực của tỉnh, tăng lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, tăng cường sản xuất nông, lâm, thủy sản theo chuỗi từ cung ứng giống, vật tư đầu vào đến kỹ thuật nuôi trồng, chế biến nông sản, trong đó, ưu tiên các sản phẩm OCOP.

Cụ thể, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm chế biến theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, nâng cao chất lượng và an toàn thực phẩm, hạ giá thành sản phẩm. Đến năm 2030, giá trị kinh tế các ngành nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 30% so với hiện nay, đối với một số ngành hàng chủ lực của tỉnh: Gạo nếp cái hoa vàng tăng 40%, chè tăng 30%, thủy sản tăng 30%, đồ gỗ tăng trên 20%.

Theo Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Hữu Giang, để nâng cao giá trị nông sản, Sở sẽ tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng tổ chức sản xuất hàng hóa gắn với lợi thế từng vùng, thị trường. Nhất là, triển khai có hiệu quả Nghị quyết 194/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 của HĐND tỉnh về việc ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đây được coi là tiền đề, động lực cho ngành chế biến sản phẩm nông nghiệp với hàng loạt các chương trình cụ thể hóa chính sách, quy định của Trung ương.

Đồng thời, triển khai nhiều ưu đãi, hỗ trợ đặc thù của tỉnh giúp cho doanh nghiệp tăng cường nguồn vốn, nhận được ưu đãi lãi suất, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho đầu tư, sản xuất. Cùng với đó, Sở sẽ phối hợp cùng các ban, ngành, địa phương khuyến khích các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ và nâng công suất bảo quản, chế biến sản phẩm nông sản, nhất là các công ty thủy sản chế biến xuất khẩu, đóng gói quả tươi và đơn vị tham gia chương trình OCOP. Từ đó, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, giá trị, đồng thời khẳng định thương hiệu, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Hoàng Quỳnh

Tin liên quan

 

.
.
.
.
.
.
.
.