Tìm hướng đi mới cho thị trường thủy sản

Thứ Năm, 07/05/2020, 12:24 [GMT+7]
.
.

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hiện nhiều loại nông sản trong tỉnh tồn đọng với số lượng lớn, không thể xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong đó, riêng ngành thủy sản, sản lượng ngao 2 cùi tồn đọng gần 3.000 tấn, hàu Thái Bình Dương 4.500 tấn, tập trung chủ yếu tại huyện Vân Đồn và TX Quảng Yên.

Hàu cửa sông tại TX Quảng yên là một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang Trung Quốc với số lượng lớn.
Hàu cửa sông tại TX Quảng Yên là một trong những mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc với số lượng lớn.

Việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc được xác định vừa là cơ hội, nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định đối với ngành thủy sản Quảng Ninh. Hạn chế lớn nhất của thị trường này là giá cả biến động, nhu cầu không ổn định, dễ bị động nếu không thể xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc. Mặt khác, Trung Quốc chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu thô, giá trị không cao. Việc thanh toán bằng Nhân dân tệ cũng tiềm ẩn rủi ro trong cán cân thanh toán do chiến tranh thương mại Mỹ - Trung.

Có một thực tế của ngành thủy sản Quảng Ninh nhiều năm nay, đó là: Sản lượng thu hoạch hằng năm đều rất lớn, nhưng các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu trong tỉnh lại luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu để sản xuất, chỉ đáp ứng được khoảng 25%, còn lại chủ yếu nhập từ các địa phương khác trong nước, thậm chí nước ngoài.

Điển hình như sản phẩm mực chế biến xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, gần như 100% nguyên liệu được nhập khẩu từ nước ngoài để chế biến. Nguyên nhân là do phần lớn thủy sản được thương lái của Việt Nam và Trung Quốc thu gom rồi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

Trong khi năng lực chế biến, cấp đông để xuất khẩu của các doanh nghiệp trong tỉnh được đánh giá khá tốt, cho lợi nhuận cao. Hiện Quảng Ninh có 5 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, công suất cấp đông 100 tấn/ngày, công suất hầm đông 200 tấn/ngày công suất kho lạnh 6.700 tấn/năm. Tổng công suất chế biến sản phẩm đạt khoảng 7.500 tấn/năm, trong đó nhu cầu nguyên liệu từ 10.000-12.000 tấn/năm.

Cùng với việc hạn chế nguồn nguyên liệu để chế biến xuất khẩu, việc xuất, nhập khẩu thủy sản còn phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức.

Theo ông Đỗ Đình Minh, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản (Sở NN&PTNT), giá một số loại thủy sản khi nhập khẩu vào Việt Nam vẫn rẻ hơn hàng trong nước, dù chịu thuế từ 10-30%. Bên cạnh đó, việc hội nhập sâu rộng với thị trường thế giới luôn đòi hỏi yêu cầu cao về kỹ thuật thương mại, vệ sinh dịch tễ, môi trường…, trong khi các doanh nghiệp của tỉnh vẫn khó đáp ứng yêu cầu này. Vấn đề bảo hộ bản quyền, thương hiệu, ghi nhãn hàng hóa và truy xuất nguồn gốc của các cơ sở xuất khẩu thủy sản Việt Nam mới chỉ trong quá trình hoàn thiện, còn nhiều bất cập…

Để tìm kiếm hướng đi mới và mở rộng thị trường, trong những năm qua, ngành thủy sản đã chú trọng tập trung tiêu thụ nội địa, kết hợp chặt chẽ với ngành dịch vụ, du lịch của tỉnh. Nhất là đẩy mạnh chế biến, nâng giá trị sản phẩm thông qua chế biến, xây dựng thương hiệu, tham gia chương trình OCOP của tỉnh. Qua đó, hàng loạt sản phẩm chất lượng cao như: Nước mắm, chả mực, thuỷ sản khô, ruốc hàu, ruốc cơ trai, hàu sữa chưng thịt, sứa muối phèn..., đã được người dân và du khách đón nhận.

Cùng với đó, nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và các đối tác lớn, như Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ… đã tạo động lực và cơ hội cho nông sản Việt Nam nói chung và thủy sản nói riêng “vươn ra biển lớn”. 

Trong đó, việc cắt giảm thuế quan từ 90% xuống 0% khi xuất khẩu thủy sản sang các nước thành viên ngay sau khi FTA được ký kết đã giảm gánh nặng cho doanh nghiệp của tỉnh. Không những thế, nhờ thuế suất 0%, các doanh nghiệp chế biến thủy sản còn tận dụng được tối đa công suất dư thừa khi nhập khẩu nguyên liệu thủy sản từ các nước thành viên đã ký FTA với Việt Nam. Sau đó, chế biến và tái xuất sang thị trường các nước thành viên, đặc biệt là thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU.

Ngoài ra, việc ký kết các hiệp định thương mại còn tăng sức cạnh tranh nhờ sử dụng dịch vụ hỗ trợ sản xuất giá rẻ, như vận tải, lưu kho; nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu vật tư, thiết bị máy móc; tiếp cận nguồn vốn và khoa học kỹ thuật ở các nước thành viên… Qua đó, tăng cơ hội hợp tác liên doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất các mặt hàng thủy sản.

Hoàng Quỳnh

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.