Ông Nguyễn Ngọc Cơ, Phó Tổng Giám đốc TKV:

"TKV luôn nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm cung cấp than cho nền kinh tế"

Chủ Nhật, 09/12/2018, 07:12 [GMT+7]
.
.

Tăng trưởng điện năm 2018 đạt mức cao, nhu cầu nhiệt điện than tăng mạnh khiến cho nguồn cung than cho các nhà máy nhiệt điện gặp khó khăn. Thậm chí đóng chân ngay tại Vùng mỏ, nhưng Nhiệt điện Quảng Ninh cũng phải tạm dừng chạy 2 tổ máy vì thiếu than để sản xuất. Liên quan đến vấn đề tiêu thụ than, nhất là cung ứng than cho các nhà máy nhiệt điện, phóng viên Báo Quảng Ninh Cuối tuần có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Ngọc Cơ, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Ông Nguyễn Ngọc Cơ.
Ông Nguyễn Ngọc Cơ.

- Thưa ông, câu chuyện nhiệt điện ở ngay vùng than mà thiếu than được cho là liên quan đến hợp đồng giữa nhiệt điện với TKV. Ông có thể lý giải rõ hơn về vấn đề này?

+ Trên cơ sở thực hiện năm 2017, dự báo thị trường, năng lực sản xuất và tồn kho, TKV xây dựng kế hoạch năm 2018 với sản lượng tiêu thụ than là 36 triệu tấn, trong đó than cung cấp cho sản xuất điện là 26,5 triệu tấn. Tuy nhiên, thực tế nhu cầu tiêu thụ than năm 2018 tăng cao. Nguyên nhân của sự thay đổi cung - cầu là do tăng trưởng điện năm 2018 đạt mức cao, trong khi thủy điện và nhiệt điện khí giảm huy động nên nhu cầu nhiệt điện than tăng mạnh. Các nhà máy điện nhận nhiều than hơn so với hợp đồng đã ký kết, tăng 5,4 triệu tấn than so với năm 2017. Đây là nguyên nhân chính.

Thêm vào đó, giá than thế giới cao hơn so với than sản xuất trong nước từ 5-10 USD/tấn tuỳ chủng loại dẫn tới các hộ tiêu thụ như: Điện, xi măng, hóa chất, thép chuyển sang mua than từ TKV, dẫn đến cung - cầu thay đổi nhanh. Các yếu tố này làm cho nhu cầu than tăng đột biến so với kế hoạch. Bên cạnh đó, việc nhiều nhà máy nhiệt điện cùng tăng nhu cầu sử dụng than và tăng đồng loạt cùng một thời điểm, trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, đã gây ra rất nhiều khó khăn cho TKV trong việc tổ chức sản xuất, chế biến và huy động nguồn than để cung cấp.

Việc ký hợp đồng dài hạn giữa đơn vị cung ứng và hộ tiêu thụ đang có những bất cập, nhất là công tác rà soát, xây dựng biểu đồ nhu cầu than chưa sát thực tế khiến đơn vị bị động trong kế hoạch sản xuất, nhập khẩu và cung ứng than. Hơn nữa, quy định tại Thông tư số 13/2017/TT-BCT liên quan đến việc phân tách giá bán than và giá thành vận chuyển than đang gây khó khăn cho công tác đấu thầu vận chuyển than, làm chậm tiến độ thực hiện hợp đồng cung ứng than giữa đơn vị cung ứng và các khách hàng.

Tóm lại, TKV luôn nhận thức rất rõ về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc cung cấp than cho nền kinh tế, đặc biệt là than cho điện. Năm 2018, TKV đã có chỉ đạo rất sớm về việc tập trung cung cấp than cho sản xuất điện. Tập đoàn đã cam kết đảm bảo cấp đủ than theo hợp đồng đã ký cho các nhà máy nhiệt điện sản xuất, nhưng không đảm bảo cho việc các nhà máy nhiệt điện tăng lượng dự trữ tồn kho theo yêu cầu. Trong khi đó, Công ty CP Nhiệt điện Quảng Ninh là một trong những đơn vị của EVN chưa ký hợp đồng dài hạn với TKV về cung cấp than. Do đó, TKV chưa có cơ sở để cân đối nhu cầu của Công ty trong dài hạn để chủ động điều hành sản xuất, đảm bảo tăng sản lượng theo yêu cầu.

Khai thác than ở Công ty CP Than Vàng Danh.
Khai thác than ở Công ty CP Than Vàng Danh. Ảnh: Phạm Học

- TKV và EVN đã bàn bạc đi đến tháo gỡ như thế nào, thưa ông?

+ Phần tăng thêm như đề nghị của Nhiệt điện Quảng Ninh, TKV và EVN đã bàn bạc thống nhất, trong tháng 12/2018 TKV sẽ cấp tiếp khoảng 200.000 tấn. Dự kiến cả năm 2018 là 2,83 triệu tấn than, tăng 21% so với năm 2017. Đến nay, Tập đoàn đã cấp cho Nhiệt điện Quảng Ninh 2,605 triệu tấn, hoàn thành khối lượng hợp đồng đã ký.

Năm 2018, dự kiến sản lượng than tiêu thụ của TKV sẽ đạt 40 triệu tấn, tăng 4 triệu tấn so với kế hoạch đầu năm và tăng 4,4 triệu tấn so với cùng kỳ 2017. Trong đó, than cung cấp cho nhiệt điện là 29 triệu tấn, tăng 5,4 triệu so với năm 2017.

Để đáp ứng nhu cầu than tiêu thụ tăng mạnh, TKV đã triển khai nhiều giải pháp quyết liệt như: Huy động tối đa tồn kho, bao gồm cả than dự trữ chiến lược; khẩn trương nhập khẩu (trên 0,5 triệu tấn than các loại) để pha trộn và cung cấp cho các hộ tiêu thụ, trong đó đặc biệt là Nhiệt điện Thái Bình 1. Chúng tôi đã điều chỉnh tăng kế hoạch sản xuất thêm 1,5 triệu tấn than nguyên khai; tổ chức phát động thi đua, đôn đốc thực hiện tăng sản lượng khai thác.

Mới đây, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã yêu cầu Bộ Công Thương khẩn trương phê duyệt biểu đồ cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện than. Xây dựng kế hoạch tổng thể về nhu cầu sử dụng than các loại, gồm than sản xuất trong nước, than nhập khẩu, đảm bảo đáp ứng nhiên liệu cho các cơ sở sản xuất, đặc biệt là đáp ứng đủ than cho các nhà máy nhiệt điện. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, EVN nghiên cứu các giải pháp sử dụng than trộn cho sản xuất điện, trên cơ sở tính toán phối trộn than trong nước và nhập khẩu đảm bảo chất lượng nhiên liệu, các yếu tố về môi trường để khắc phục việc thiếu than của các nhà máy điện; không để thiếu than cho sản xuất điện, kể cả ngắn hạn trong tháng cuối năm 2018. Thực hiện chỉ đạo đó, Tập đoàn sẽ cùng EVN và các hộ tiêu thụ than khác khẩn trương thỏa thuận ký hợp đồng mua bán than năm 2019 và kế hoạch mua bán than dài hạn, trung hạn và thực hiện nghiêm theo hợp đồng để đáp ứng đủ than cho sản xuất.

- Thưa ông, một trong những vấn đề còn gây ra nhiều dư luận là giá bán than phải theo quy luật thị trường. Câu chuyện về giá sẽ được giải quyết thế nào, thưa ông?

+ Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đã chỉ đạo, về giá bán than sản xuất trong nước thực hiện theo Luật Giá, Bộ Tài chính chủ động làm việc và hướng dẫn các đơn vị sản xuất than trong nước xác định giá than theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo sản xuất, kinh doanh than có hiệu quả.

Cùng với việc đảm bảo về giá phải đảm bảo lượng than tiêu thụ. Nhu cầu than cho sản xuất điện thời gian qua biến động rất lớn và phụ thuộc rất nhiều vào việc huy động các nhà máy nhiệt điện chạy than. Ví dụ năm 2017, TKV cung cấp 23,6 triệu tấn than cho điện; năm 2018, than cho điện dự kiến trên 29 triệu tấn, tăng 5,4 triệu tấn. Trong trường hợp giảm huy động các nhà máy điện chạy than, lượng than tiêu thụ sẽ giảm rất mạnh. Do vậy, cần phải có cam kết của các nhà máy điện về việc nhận đủ than theo hợp đồng kể cả trong trường hợp giảm phát để TKV có thể chủ động trong sản xuất, đầu tư.

Thêm vào đó, do giá bán than cho nhiệt điện hiện nay thấp hơn giá thị trường và thấp hơn nhiều so với giá than nhập khẩu, do đó cần sớm có chính sách giá đối với than pha trộn từ than nhập khẩu với than trong nước sản xuất để TKV chủ động tính toán phương án nhập khẩu đảm bảo nhu cầu cho các nhà máy điện ngay từ đầu năm 2019.

Rót than xuống tàu tại Công ty Tuyển than Cửa Ông.
Rót than xuống tàu tại Công ty Tuyển than Cửa Ông. Ảnh: Phạm Học

- Thị trường tiêu thụ than đang ấm dần lên. Xin ông cho biết kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ than năm 2019?

+ Dự báo, nhu cầu tiêu thụ than của các hộ sử dụng trong nước năm 2019 đối với nguồn than do TKV cung cấp sẽ tiếp tục tăng cao. Theo tính toán của EVN, riêng nhu cầu than cho các hộ điện là 38,3 triệu tấn. Căn cứ tình hình thực hiện cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện và năng lực sản xuất, chế biến của TKV, Tập đoàn dự kiến kế hoạch tiêu thụ than năm 2019 là 40 triệu tấn, trong đó cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện là 31,9 triệu tấn (kể cả phần nhập khẩu 4 triệu tấn để pha trộn). Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ than trong nước, năm 2019, TKV xây dựng kế hoạch sản xuất 39 triệu tấn than nguyên khai, chế biến 36 triệu tấn than sạch; phần thiếu hụt sẽ nhập khẩu để pha trộn với than sản xuất trong nước thành than đảm bảo tiêu chuẩn để cung cấp cho các hộ tiêu thụ.

Do đó, Tập đoàn đang yêu cầu các đơn vị cân đối, huy động tối đa năng lực thiết bị hiện có thực hiện khối lượng công việc tăng thêm; tập trung đưa than ra các nhà máy tuyển để chế biến thành các chủng loại than phù hợp với nhu cầu của thị trường. Riêng đối với các công ty kho vận, cần phối hợp tốt với các đơn vị sản xuất trong việc giao nhận than; tăng cường bảo vệ, chống thất thoát than trên đường vận chuyển, tiêu thụ. Tập đoàn tiếp tục thực hiện than chuyển vùng từ miền Tây để sàng tuyển, chế biến tiêu thụ than cho nhiệt điện; vùng Hòn Gai tập trung thực hiện Dự án Trung tâm chế biến và kho than tập trung, có phương án sản xuất khi chấm dứt hoạt động của Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng; nâng cao năng lực kho cảng, bốc rót cảng Làng Khánh. Các đơn vị còn sản lượng mét lò đào lớn cần tập trung cho công tác đào lò; các đơn vị khai thác than lộ thiên vùng Cẩm Phả khẩn trương bơm hút nước, hạ moong lấy than và chuẩn bị diện sản xuất cho năm 2019.

Theo quy hoạch phát triển ngành Than đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, sản lượng than thương phẩm sản xuất toàn ngành khoảng 47-50 triệu tấn vào năm 2020, năm 2030 đạt từ 55-57 triệu tấn. Đây là thách thức không nhỏ với ngành Than, đặc biệt là vấn đề ưu tiên đảm bảo nguồn cung cấp ổn định, lâu dài với số lượng lớn than cho sản xuất điện. Để thực hiện nhiệm vụ chiến lược đó cũng như chủ động sẵn sàng tăng cao sản lượng, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế trong những năm tới, Tập đoàn chỉ đạo các đơn vị thành viên tiếp tục đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng mỏ mới, các dự án mở rộng sản xuất; tiếp tục tăng cường tư vấn, nghiên cứu, hiện đại hóa các mỏ than, từng bước nâng cao năng lực khai thác than hầm lò; đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng cơ giới hóa, tự động hóa, nhằm nâng cao mức độ bảo đảm an toàn lao động, năng suất và chất lượng.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Lê Hải - Phạm Học (Thực hiện)

Tin liên quan

 

.
.
.
.
.
.
.
.