Khó khăn trong khâu xử lý bao gói thuốc bảo vệ thực vật

Thứ Bảy, 14/07/2018, 07:19 [GMT+7]
.
.

Trung bình mỗi năm, trên địa bàn tỉnh sử dụng hơn 200 tấn hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), tương đương khoảng 20 tấn vỏ bao bì, thuốc tồn đọng còn dính trong bao bì cần được xử lý. Tuy nhiên khâu thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng tại các địa phương vẫn đang gặp phải khó khăn khi chưa tìm được biện pháp xử lý triệt để. Điều này gây ảnh hưởng xấu tới môi trường khu vực nông thôn.

Tin liên quan

22
Nhiều hộ trồng rau ở cánh đồng Thanh Hao, phường Cộng Hòa thường xuyên xử lý, pha chế thuốc BVTV gần khu vực kênh tưới tiêu, dễ gây ô nhiễm nguồn nước tưới.

Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng thuốc BVTV có vai trò quan trọng đối với phòng ngừa sâu bệnh gây hại cho cây trồng, tuy nhiên nếu lạm dụng thuốc BVTV sẽ tác động xấu đến môi trường xung quanh. Bởi các loại hoá chất BVTV trong quá trình sử dụng một phần sẽ bị oxy hoá thành dạng khí bay lên, một phần được cây trồng hấp thụ vào nông sản. Ngoài ra, còn dễ bị rửa trôi theo nguồn nước chảy vào kênh mương, ao, hồ, sông ngòi gây ô nhiễm nguồn nước. Trong khi đó, phần lớn các bao, gói thuốc BVTV có dạng chai, lọ nhựa khó phân hủy và nguy hại. Mặc dù vậy, hiện nay hầu hết vỏ thuốc BVTV tại các vùng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn chưa được xử lý triệt để.

Những ngày giữa tháng 7, trên cánh đồng trồng rau an toàn Thanh Hao, phường Cộng Hòa (TX Quảng Yên), chúng tôi bắt gặp khá nhiều hộ dân chuẩn bị phun thuốc BVTV cho hoa màu. Quanh khu vực này dễ dàng thấy khá nhiều vỏ, gói thuốc BVTV vứt vô tội vạ trên đường đi, dưới kênh mương hay dưới ruộng canh tác... Điều đáng nói, năm 2017 địa phương đã triển khai xây dựng một số bể chứa vỏ, gói thuốc BVTV tại vị trí thuận tiện trên cánh đồng này nhưng không phải người dân nào cũng có ý thức thu gom để đúng nơi quy định.

Không những thế, một số nông dân ở đây còn pha chế, sử dụng thuốc BVTV ngay sát khu vực kênh dẫn nước tưới tiêu. Quy trình thực hiện pha chế như đổ thuốc, nước vào bình phun rất dễ làm thuốc BVTV bị vương vãi, tràn xuống kênh nước lan ra khu vực bên cạnh. Trong khi đó, nhiều người tiếp xúc trực tiếp với thuốc BVTV nhưng không hề trang bị đồ dùng bảo hộ cho mình. Điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường nguồn đất, nước, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

22
Vỏ bao bì thuốc BVTV vứt tràn lan tại cánh đồng Thanh Hao, phường Cộng Hòa (TX Quảng Yên).

Tương tự, tại cánh đồng trồng rau an toàn Đồng Đến, thôn Đình, xã Tiền An (TX Quảng Yên) mặc dù đã được xây nhiều bể chứa vỏ, bao gói thuốc BVTV, tuy nhiên hầu hết các bể chứa đều xây lâu năm nên không đạt tiêu chuẩn. Bể chứa không có nắp đậy, không có biển cảnh báo nguy hiểm, xã cũng chưa có khu vực lưu chứa xử lý vỏ thuốc BVTV tập trung dẫn tới tình trạng các bể chứa thường xuyên bị ùn, ứ đọng rác. Mỗi khi gặp trời mưa, vỏ thuốc rất dễ bị trôi ngấm xuống ruộng đồng canh tác xung quanh.

Ông Phạm Phúc Hạnh, hộ trồng rau lâu năm ở xã Tiền An cho biết: Dù đã được tập huấn tuyên truyền cách xử lý, thu gom vỏ thuốc BVTV đúng nơi quy định nhiều lần nhưng vẫn còn một số hộ có thói quen vứt vỏ bao bì tùy tiện ngay tại đồng ruộng, dưới mương nước. Thỉnh thoảng tôi mới thấy xe về thu gom vỏ thuốc BVTV tại các bể. Nhiều khi bể chứa đầy qúa không thấy ai dọn chúng tôi phải tự xử lý bằng cách đốt tại chỗ. Vẫn biết làm vậy không đảm bảo môi trường, nhưng không còn lựa chọn nào khác khi mà các bể chứa thường xuyên rơi vào tình trạng ùn đọng.

Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở NN&PTNT), tính từ năm 2013 đến nay, toàn tỉnh xây dựng được hơn 1.300 bể chứa bao gói thuốc BVTV sau sử dụng. Tuy nhiên con số này chỉ đáp ứng được nhu cầu khoảng 60-70% tại các địa phương. Điều đó đồng nghĩa vẫn còn hàng nghìn ha sản xuất tập trung chưa có bể chứa. Trong khi đó, toàn tỉnh mới chỉ có gần 100 bể chứa đáp ứng cơ bản tiêu chuẩn quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2016/TTLT-BNNPTNT-BTNMT như: Bể chứa có nắp đậy, biển cảnh báo nguy hiểm; việc bố trí các bể chứa bao gói thuốc BVTV thuận tiện...

22
Các hộ trồng rau tại cánh đồng Đồng Đến, thôn Đình, xã Tiền An thường xuyên tự đốt tại chỗ bao, gói thuốc BVTV. Cách làm này rất dễ gây ô nhiễm môi trường không khí.

Thực tế hiện nay, 100% địa phương trong tỉnh vẫn chưa có khu vực lưu chứa vỏ, bao gói thuốc BVTV. Tỉnh cũng chưa xây dựng được nhà máy rác chuyên xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng, điều này gây khó khăn trong thu gom, xử lý bao gói thuốc BVTV tại các địa phương.

Để giải quyết tình thế trước mắt, đa số các địa phương vẫn tự xử lý bằng cách đốt chung với rác thải sinh hoạt. Cách làm này vẫn chưa giải quyết triệt để khi khói thuốc dễ phát tán gây ô nhiễm môi trường xung quanh. Hiện nay duy nhất TX Quảng Yên đang thuê 1 đơn vị tại TP Hải Phòng thu gom, vận chuyển, xử lý riêng rác thải bao gói thuốc BVTV. Tuy nhiên, qua tìm hiểu đơn vị hợp đồng với địa phương vài tháng mới sang thu gom vận chuyển 1 lần, thời gian không cố định nên các bể chứa thường rơi vào tình trạng quá tải. Về lâu dài, phương án này khá bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào phía doanh nghiệp hợp đồng thu gom.

Ông Phạm Duy Duẩn, Trưởng Phòng Thanh tra Pháp chế, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết, đa số các hộ dân sau khi sử dụng thuốc BVTV thường vứt vỏ bao bì bừa bãi ngay tại đồng ruộng, dưới mương nước, ao hồ... khiến môi trường khu vực nông thôn rơi vào tình trạng ô nhiễm trầm trọng. Để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường từ chất thải thuốc BVTV, thời gian tới các địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, giúp người dân thay đổi hành vi. Lồng ghép với đó, các địa phương nên cân đối, bố trí vốn ưu tiên đầu tư các bể chứa bao gói thuốc BVTV đúng quy định.

Ngoài ra, Sở NN&PTNT cũng đang trình tỉnh phê duyệt Dự án xây dựng mô hình thu gom, vận chuyển, xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng và tiêu hủy bao gói tồn đọng, thuốc BVTV ngoài danh mục, hết hạn trên địa bàn tỉnh năm 2018-2020, tổng mức đầu tư của dự án hơn 2 tỷ đồng. Dự kiến cuối năm 2018 dự án khởi động làm thí điểm xây dựng bể chứa, khu lưu chứa, thu gom, vận chuyển ở 3 địa phương trên địa bàn TX Đông Triều. Nếu dự án triển khai hiệu quả, sẽ nhân rộng mô hình ra các địa phương.

Phạm Tăng

.
.
.
.
.
.
.
.