Đảm bảo an ninh nước ngọt:

Bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị các công trình trữ, chứa nước

Thứ Hai, 13/11/2017, 15:44 [GMT+7]
.
.

Quảng Ninh có hệ thống hồ, đập chứa nước dày đặc với sức chứa lớn và trong những năm qua, hầu hết các công trình này đều phát huy hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên hiện nay dưới sự biến đổi của khí hậu và nhiều tác động bất lợi khác, công tác quản lý, vận hành hồ đập đã bộc lộ những tồn tại, bất cập nhất định, cần được giải quyết.

Tin liên quan

Hồ Tràng Vinh
Hồ Tràng Vinh có dung tích trên 75 triệu m3 nước đang được vận hành khá hiệu quả. (Ảnh thư viện điện tử Quảng Ninh)

Đảm bảo nước phục vụ sản xuất nông nghiệp 

Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có 179 hồ chứa nước, tổng dung tích thiết kế 359 triệu m3 (trong đó có 7 hồ có dung tích trên 10 triệu m3/hồ), năng lực thiết kế tưới 33.000ha đất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp trên 36 triệu m3, cấp nước cho nuôi trồng thủy sản 2.000 ha. Bao gồm 27 hồ thực hiện cấp nước đa mục tiêu phục vụ sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy sản với dung tích 288,5 triệu m3; 152 hồ chứa nước chuyên phục vụ cho sản xuất nông nghiệp với tổng dung tích 55 triệu m3.

Hiện các hồ đập lớn đều do các công ty TNHH MTV thủy lợi, vốn là doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước quản lý, vận hành; các công trình nhỏ do các trung tâm quản lý thủy nông, là đơn vị sự nghiệp công ích có thu cấp huyện, các HTX dịch vụ nông nghiệp quản lý hoặc các xã, phường trực tiếp quản lý.

Nhờ công tác quản lý vận hành tương đối tốt, các công trình hồ chứa nước, đặc biệt là các công trình lớn đã phát huy tác dụng, hỗ trợ, tạo điều kiện phát triển đa dạng hóa cây trồng, chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, góp phần đảm bảo nguồn nước để cấp nước sinh hoạt cho đô thị, nước phục vụ hoạt động sản xuất cho công nghiệp, đồng thời góp phần điều hòa dòng chảy cho các dòng sông, ổn định dòng chảy mùa kiệt, bảo vệ môi trường nước...

Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, trong những năm gần đây, trung bình mỗi năm, các hồ chứa đã cung cấp nước tưới cho trên 50.000ha diện tích canh tác (tính tổng diện tích 2 vụ/năm). Riêng năm 2016, tổng diện tích đất trồng lúa toàn tỉnh được tưới đạt trên 42.000ha, trong đó vụ đông xuân 16.700ha, vụ mùa 25.200ha và 12.500ha rau màu, cây công nghiệp; cung cấp khoảng 30 triệu m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp; ngăn mặn cho 43.600ha; cấp nước cho nuôi trồng thủy sản 209ha và tiêu nước cho trên 33.800ha đất nông nghiệp.

Thời gian gần đây Công ty TNHH MTV Thủy lợi Yên Lập còn cấp nước thô cho Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh 140.000m3/tháng;  Công ty TNHH MTV Thủy lợi Miền Đông cấp nước thô với công suất 200.000m3/tháng cho Xí nghiệp nước Móng Cái và Khu công nghiệp Hải Yên TP Móng Cái.

Hồ Đá Lạn huyện Tiên Yên đangg bị bồi lắng lòng hồ
Hồ Đá Lạn huyện Tiên Yên đang bị bồi lắng lòng hồ.

Cần có những đổi mới căn bản

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng mừng trên, tuy nhiên theo công tác vận hành, khai thác các hồ đập hiện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại, vẫn chủ yếu tập trung cung cấp nước cho cây lúa, phần lớn các cây trồng cạn, đặc biệt là các cây công nghiệp chưa có nước tưới. Riêng việc cung ứng nước cho nuôi trồng thủy sản, hiện mới cung ứng một diện tích nhỏ, chưa tương xứng với thiết kế.

Hiện nay nhu cầu sử dụng nước của các khu đô thị, khu công nghiệp lớn dẫn đến thiếu nước ở các vùng này. Kết quả khảo sát các mùa khô gần đây của cơ quan chức năng cho thấy, vào các năm hạn hán nguồn nước cung cấp cho các địa phương Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí, Hoành Bồ, Bình Liêu không được bảo đảm. Đây cũng là những địa phương hiện không có hồ chứa nước cấp nước đa mục tiêu, chính bởi vậy nguy cơ thiếu nước để sinh hoạt, sản xuất đang là mối lo lớn.

Riêng đối với thị trấn Cái Rồng, huyện Vân Đồn, trong tháng 6/2017 vừa qua, phần lớn diện tích canh tác bị khô hạn, người dân thiếu nước sinh hoạt để dùng do hồ Mắt Rồng cạn nguồn sinh thủy. Huyện Cô Tô hiện nay tạm thời đáp ứng nhu cầu nước, tuy nhiên khi ngành du lịch phát triển kéo theo lượng khách đông hơn, nhu cầu sử dụng nước lớn hơn thì địa phương này sẽ rơi vào tình trạng thiếu nước. Tương tự huyện Hải Hà, trong thời gian tới, khi nhu cầu dùng nước của khu công nghiệp Hải Hà tăng cao thì địa phương này cũng không đủ lượng nước cần thiết.

Một tồn tại khác là trong những năm gần đây, việc huy động vốn đầu tư xây mới, nâng cấp hồ đập chứa nước của cả cấp trung ương và tỉnh đều nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu thực tế. Theo rà soát của Chi cục Thủy lợi tỉnh, trong khoảng 20 năm trở lại đây mới có 8 hồ được nâng cấp từ nguồn vốn trung ương, trong đó hồ nâng cấp gần đây nhất từ năm 2012; nguồn vốn của tỉnh dành xây mới 1 công trình là hồ Khe Cát.

Công ty TNHH MTV thủy lợi Yên Lập xây dựng công trình xả lũ hiện đại, nhằm nâng cao tính bền vững của công trình
Công ty TNHH MTV Thủy lợi Yên Lập xây dựng hệ thống xả lũ hiện đại, nhằm nâng cao tính bền vững của công trình.

Bên cạnh đó, nếu như các hồ đập lớn được các công ty TNHH MTV thủy lợi quản lý khá tốt thì không ít các công trình nhỏ do địa phương quản lý đang xuống cấp, lãng phí nước. Huyện Vân Đồn đang quản lý, khai thác 5 hồ chứa nước thì chỉ có hồ Khe Mai, Lòng Dinh đang hoạt động tương đối hiệu quả, còn hồ Mắt Rồng hiện nguồn sinh thủy rất hạn chế, hồ Cẩu Lẩu và hồ Ngọc Thủy đã bị xuống cấp. Ngoài ra một loạt các hồ chứa khác đang do địa phương quản lý bị xuống cấp, hư hỏng, cần sớm được sửa chữa như: Hồ Rộc Cùng, Khe Chùa, Khe Táu, Hải Yên, Đá Lạn (huyện Tiên Yên); Sau Làng, Cái Mắm (TP Hạ Long); Quất Đông, Dân Tiến, Khe Năng (TP Móng Cái); hồ C4 (huyện Cô Tô); hồ Tân Bình (huyện Đầm Hà)… Đa số các hồ đều trong tình trạng cống bị rò rỉ, tràn xả lũ, lòng hồ bị bồi lắng hoặc xói sâu, hỏng van điều tiết, mái đập bị thấm nước, sụt lún, mặt đập bị sạt lở hoặc lún, thân đập bị thấm nước hoặc nứt gãy... Trong khi đó không ít các hồ này đều nằm sát khu dân cư, nên nếu xảy ra sự cố sẽ gây nguy hiểm lớn cho người dân.

Theo ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT, để đảm bảo an toàn và phát huy giá trị hồ đập, ngoài chú trọng phát triển rừng đầu nguồn, tạo nguồn sinh thủy thì việc làm cần thiết là nâng cấp, sửa chữa các hồ xuống cấp, nhất là các hồ gần khu dân cư. Trong đó giai đoạn trước mắt cần nghiên cứu tu bổ, nâng dung tích của 8 hồ quan trọng là Khe Chè, Cao Vân, Mắt Rồng, C4, Tân Bình, Chúc Bài Sơn, Tràng Vinh và Quất Đông. Từng bước xây dựng mới một số hồ chứa để phục vụ nhu cầu dùng nước đang ngày càng tăng ở các khu vực đô thị, khu du lịch, dịch vụ và khu công nghiệp như hồ 12 Khe, hồ Lưỡng Kỳ, hồ Khe Dữa, hồ Đồng Dọng, hồ Tài Chi.

Bên cạnh đó, các đơn vị chức năng trung ương cần sớm thống nhất về định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; hướng dẫn cụ thể công tác đặt hàng, hoặc đấu thầu dịch vụ thuỷ lợi...

Việt Hoa

.
.
.
.
.
.
.
.