Phát triển kinh tế thủy sản bền vững

Để cán đích mục tiêu: "Mạnh về biển, giàu lên từ biển"

Thứ Năm, 10/08/2017, 06:22 [GMT+7]
.
.

Ngày 6-5-2014, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU về phát triển kinh tế thuỷ sản Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Sau 3 năm triển khai, bên cạnh những kết quả đạt được, còn không ít “rào cản” khiến cho ngành kinh tế thuỷ sản của tỉnh vẫn chưa thể phát triển tương xứng với tiềm năng. Trong đó, đáng lưu tâm là nhận thức của người dân về vấn đề bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vẫn còn nhiều hạn chế.

Những đột phá

Theo báo cáo của Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh tại hội nghị đánh giá kết quả 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TU về phát triển kinh tế thuỷ sản Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (tổ chức ngày 27-7-2017), ngành kinh tế thuỷ sản tỉnh so với thời điểm trước khi có Nghị quyết 13 đã có những chuyển biến tích cực, một số lĩnh vực gần đạt hoặc vượt so với chỉ tiêu Nghị quyết. Điển hình, như: Giá trị thuỷ sản năm 2016 đạt trên 8.000 tỷ đồng, chiếm 50% giá trị toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp (năm 2013 là 44%), đóng góp 3,4% GRDP của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng bình quân/năm giai đoạn 2014-2016 là 11,1%, tăng gấp đôi so với năm 2013; thu hút lao động đạt trên 95%. Tổng sản lượng thuỷ sản đạt trên 100.000 tấn, vượt 5,4% chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến hết năm 2016 đạt 20.690ha, tăng 590ha so với năm 2013, bằng 99,83% so với mục tiêu của Nghị quyết. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2016 đạt 50.000 tấn, tăng 16.650 tấn so với năm 2013, bằng 108,69% so với mục tiêu Nghị quyết. Mặc dù, diện tích nuôi tôm toàn tỉnh năm 2016 chỉ tăng khoảng 3% so với năm 2013, nhưng diện tích nuôi tôm công nghiệp đã tăng rõ rệt do chuyển đổi từ nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang nuôi thâm canh, bán thâm canh theo quy mô công nghiệp. Nhờ đó sản lượng tôm nuôi của tỉnh năm 2016 đã tăng 125% so với năm 2013, đứng đầu các tỉnh phía Bắc...

Công nhân Công ty TNHH Xuất nhập khẩu, Dịch vụ, Thương mại nông nghiệp Thuận Thiện Phát (khu Đồng Mát, phường Tân An, TX Quảng Yên) kiểm tra chất lượng tôm giống tại đầm nuôi trồng.
Công nhân Công ty TNHH Xuất nhập khẩu, Dịch vụ, Thương mại nông nghiệp Thuận Thiện Phát (khu Đồng Mát, phường Tân An, TX Quảng Yên) kiểm tra chất lượng tôm giống tại đầm nuôi trồng.
Nghị quyết số 13-NQ/TU đề ra mục tiêu phát triển thuỷ sản toàn diện cả về nuôi trồng, khai thác, chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá theo hướng công nghiệp, sản xuất hàng hoá phục vụ du lịch, dịch vụ cao cấp, đẩy mạnh xuất khẩu, gia tăng giá trị và bền vững; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế thuỷ sản chiếm 3% GDP của tỉnh, đóng góp 60-65% GDP trong khối nông - lâm - ngư nghiệp, giá trị xuất khẩu thuỷ sản đạt trên 100 triệu USD, tạo việc làm cho khoảng 62.000 lao động...

Bên cạnh đó, ngành Thuỷ sản đã thu hút được một số nhà đầu tư lớn trong lĩnh vực sản xuất thuỷ sản, như: Dự án sản xuất giống, nuôi thương phẩm và chế biến thức ăn cho tôm công nghệ cao tại xã Cộng Hoà (TP Cẩm Phả); dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng vùng sản xuất giống nhuyễn thể tập trung Vân Đồn; dự án Trung tâm Sản xuất giống công nghệ cao và nuôi thực nghiệm giống hải sản và dự án Khu phức hợp sản xuất giống, nuôi tôm thương phẩm siêu thâm canh công nghệ cao, chế biến thức ăn và chế biến thuỷ sản, tại huyện Đầm Hà... Cùng với đó, hoạt động khai thác, chế biến thuỷ sản có những tín hiệu tích cực. Đến tháng 4-2017, toàn tỉnh có 7.494 tàu cá; trong đó, 6.988 tàu công suất dưới 90CV, 506 tàu có công suất từ 90CV trở lên. Tổng sản lượng khai thác thuỷ sản năm 2016 đạt 58.200 tấn, tăng 2.566 tấn so với năm 2013, bằng 102,1% so với mục tiêu Nghị quyết. Hiện trên địa bàn tỉnh có 14 cơ sở chế biến thuỷ sản tiêu thụ nội địa thuộc cấp tỉnh quản lý với nhiều sản phẩm có giá trị, thương hiệu, tham gia chương trình OCOP của tỉnh. 100% cơ sở chế biến thuỷ sản áp dụng hệ thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm theo HACCP.

Còn không ít “rào cản”

Đến thăm lứa tôm mới được thả theo mô hình nuôi tôm trong nhà bạt của Công ty TNHH Xuất nhập khẩu, Dịch vụ, Thương mại nông nghiệp Thuận Thiện Phát, anh Nguyễn Đức Hoành, nhân viên kỹ thuật Công ty, cho biết: “Mô hình nuôi tôm trong nhà bạt được triển khai tại TX Quảng Yên từ năm 2014, là hướng đi mới, mở ra triển vọng cho người nuôi tôm tại địa phương. Từ tháng 9-2014, Công ty đã nuôi thí điểm gần 5 triệu con tôm thẻ chân trắng. Đầu năm nay, Công ty tiếp tục đưa vào nuôi gần 2,5ha với 14 ao nuôi. Tuy nhiên, với mức lãi gần như gấp đôi là những rủi ro bệnh dịch đi kèm, từ đó khiến nguồn vốn bị thất thoát, rất khó tiếp tục đầu tư. Cụ thể, trong 3 năm đầu tư ngành nuôi tôm với khoảng 9 vụ nuôi thả, Công ty chỉ đạt được lợi nhuận khoảng 1/3 số vụ, còn lại phải chấp nhận bán giá thấp do điều kiện thời tiết khắc nghiệt, tôm bị mắc nhiều bệnh dịch”.

Không chỉ trong ngành nuôi tôm gặp khó khăn về vốn do dịch bệnh, thời tiết, bản thân các tàu khai thác thuỷ sản cũng có những vướng mắc tương tự. Theo Phó Chủ tịch Hội Nông dân phường Tân An (TX Quảng Yên) Phạm Phúc Thọ, địa phương có khoảng 180 tàu cá, với hơn 100 tàu cá dưới 90CV và 20 tàu cá trên 200CV. Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác, đánh bắt thuỷ sản gần bờ và ngành câu truyền thống đang có xu hướng giảm do nguồn lợi thuỷ sản gần bờ ít dần. Người dân có nhu cầu tiếp cận nguồn vốn để nâng công suất phương tiện, đánh bắt xa bờ nhưng còn khó khăn về thủ tục, nguồn vốn đối ứng, tài sản thế chấp... Thực tế, trong 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất cho tàu cá xa bờ, trên địa bàn tỉnh chỉ có 31 tàu (Quảng Yên 6 tàu, Vân Đồn 8 tàu, Hải Hà 12 tàu, Uông Bí 5 tàu) được đóng mới nâng cấp tàu cá có công suất từ 90CV trở lên. Theo đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ lãi suất 6%/năm với tổng số tiền hỗ trợ 832 triệu đồng. Tuy vậy, tàu cá hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất thường có mức đầu tư thấp, kích thước nhỏ, máy chính thường dùng máy đã qua sử dụng. Các tàu loại này có doanh thu và lợi nhuận thấp hơn những tàu đóng mới theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thuỷ sản.

Bên cạnh đó, việc cấp kinh phí còn hạn chế và “nhỏ giọt” khiến hạ tầng khu neo đậu tránh trú bão tàu thuyền nghề cá chưa phát huy được hiệu quả. Hiện tỉnh có 8 khu neo đậu tránh trú bão được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó UBND tỉnh đã phê duyệt đầu tư 6 dự án khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá. Đến nay có 5/6 dự án đang được triển khai thực hiện, nhưng do nguồn kinh phí cấp còn hạn chế, nên đa phần các công trình đều dở dang chưa hoàn thành.

Theo lãnh đạo Chi cục Thuỷ sản (Sở NN&PTNT), hiện số lượng tàu thuyền công suất nhỏ khai thác gần bờ vẫn chiếm số lượng lớn (tàu có công suất dưới 50CV chiếm 88%). Tuy nhiên, công tác quản lý tàu cá, số lượng cấp đổi, gia hạn giấy phép khai thác thuỷ sản tại nhiều huyện, thị xã, thành phố đạt tỷ lệ thấp. Nguyên nhân do các địa phương thiếu nhân lực, trang thiết bị, phương tiện, kinh phí để triển khai. Một số phương tiện là bè mảng trước đây đã được đăng ký đăng kiểm, nhưng hiện không được tiếp tục đăng kiểm do chưa có văn bản quy phạm đăng kiểm cho loại bè mảng này. Vì thế toàn bộ bè mảng đã đăng ký từ trước bị xoá tên trong sổ đăng ký, số đóng mới không được đăng ký đăng kiểm. Một số tàu có công suất từ 20CV trở lên đã được đăng ký từ trước do quá hạn đăng kiểm 24 tháng đã xoá tên trong sổ đăng ký tàu cá, nhưng vẫn còn tồn tại và hoạt động khai thác thuỷ sản.

Bên cạnh đó, công tác lập, quản lý và triển khai quy hoạch chi tiết của địa phương còn chậm. Ngoài TP Cẩm Phả đã lập quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trên biển, các địa phương khác mới chủ yếu quy hoạch trong đê, còn quy hoạch chi tiết nuôi trồng thuỷ sản trên biển chưa được quan tâm. Vì thế, khi triển khai nuôi trồng theo hình thức bán tự nhiên thì thiếu tính bền vững, ổn định, khó thu hút đầu tư trong lĩnh vực này. Theo đánh giá của ông Hà Vân Giang, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ sản, thực tế hiện nay cơ cấu kinh tế thuỷ sản chưa bền vững, do phương thức nuôi phần lớn vẫn là quảng canh hoặc quảng canh cải tiến (chiếm 77%), năng suất nuôi thấp hơn năng suất bình quân của cả nước. Bản thân địa phương chưa có doanh nghiệp đủ mạnh để chủ động được giống một số đối tượng thuỷ sản chủ lực, đặc sản của tỉnh. Chế biến thuỷ sản chủ yếu là gia công, chưa có nhiều cơ sở chế biến sâu. Nguồn vốn ngân sách đầu tư hạ tầng thuỷ sản thấp, chưa có sự chuyển biến rõ nét so với trước khi có Nghị quyết 13.

Cần sớm được tháo gỡ

Với việc đưa Nghị quyết 13 vào triển khai, ngành Thuỷ sản tỉnh đã có được những bước chuyển mình đáng ghi nhận. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu của Nghị quyết, để cán đích mục tiêu “mạnh từ biển, giàu lên từ biển” ngành Thuỷ sản còn rất nhiều việc phải làm. Những việc này đã được Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Văn Đọc chỉ rõ tại hội nghị đánh giá kết quả 3 năm triển khai Nghị quyết 13: Ngành Thuỷ sản cần điều chỉnh tăng nhanh nuôi trồng, giảm dần đánh bắt, trong đó tập trung nuôi trồng siêu thâm canh, công nghiệp và siêu công nghiệp; tăng cường áp dụng KHCN vào nuôi trồng vừa để đảm bảo ngư dân nuôi trồng thuận lợi, vừa từng bước nâng cao giá trị kinh tế. Đối với vấn đề chế biến thuỷ sản, cần tập trung chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đầu tư phát triển sản phẩm có giá trị cao như sá sùng, ngán. Về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, cơ quan chức năng cần ngăn chặn việc đánh bắt tận diệt cũng như kiên quyết xử lý nghiêm đánh bắt trái phép để bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản...

Theo ông Hà Vân Giang, ngành Thuỷ sản rất cần có thêm sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh, các ngành chức năng liên quan; trong đó có việc điều chỉnh một số chỉ tiêu tại Nghị quyết, như: Tăng chỉ tiêu số lượng tàu khai thác, dịch vụ thuỷ sản xa bờ từ 400 tàu lên 600 tàu; điều chỉnh giảm diện tích nuôi trồng thuỷ sản từ 23.000ha xuống còn 20.000ha. Ngành cũng cần được tỉnh đồng ý chủ trương xây dựng một số chương trình, đề án để tạo sự lan toả cho phát triển thuỷ sản, cũng như bố trí nguồn lực hằng năm từ ngân sách tỉnh (khoảng 3%/tổng nguồn vốn ngân sách đầu tư tập trung của tỉnh theo Nghị quyết đã đề ra) để đầu tư cho phát triển lĩnh vực giống và hệ thống kết cấu hạ tầng thuỷ sản. Có như vậy, mới khai thác hết thế mạnh của ngành Thuỷ sản địa phương, tăng năng suất nguồn lợi, định hướng thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và bền vững của tỉnh.

Cẩm Nang - Hoàng Quỳnh

Trưởng Phòng Kế hoạch - Phát triển tài nguyên du lịch, Sở Du lịch Nguyễn Đức Huynh:
“Nguồn lợi thuỷ sản là một trong những yếu tố góp phần phát triển du lịch địa phương”

 

Chỉ với một phép tính đơn giản, chúng ta có thể thấy, trung bình mỗi khách sử dụng 0,8-1kg hải sản, tương ứng 10-12 USD (chưa tính phần giá dịch vụ thuỷ sản). Như vậy, doanh thu xuất khẩu thuỷ sản tại chỗ hằng năm của tỉnh ước đạt từ 35-40 triệu USD. Nguồn lợi thuỷ sản còn tạo nên các sản phẩm du lịch đặc trưng, có thương hiệu, được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến, như: Chả mực, các loại hải sản tươi sống, đồ lưu niệm... Đặc biệt, việc phát triển thuỷ sản bền vững cũng tạo ra một hướng đi mới cho du lịch trải nghiệm, thăm và tham gia các khâu trong nuôi trồng ngọc trai, hàu, hà, lồng bè nuôi cá... Qua đó, giúp du khách hiểu hơn về ngành nghề thuỷ sản tại địa phương, đồng thời tạo dấu ấn, thiện cảm cho du khách khi đến thăm Quảng Ninh.

Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ sản Hà Vân Giang:
“Chủ động đánh bắt, khai thác nguồn lợi thuỷ sản bền vững”

 

Một trong những giải pháp được Sở NN&PTNT chú trọng là việc chủ động đánh bắt và khai thác nguồn lợi thuỷ sản bền vững. Trong đó, tập trung phát triển khai thác thuỷ sản xa bờ và giảm khai thác gần bờ; khuyến khích ngư dân ứng dụng khoa học công nghệ trong khai thác và bảo quản sản phẩm. Cũng như đầu tư đóng mới, nâng cấp tàu đánh bắt xa bờ; cơ cấu lại nghề khai thác thuỷ sản phù hợp với ngư trường nguồn lợi; kết hợp hài hoà giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản theo hướng bền vững. Bên cạnh đó, Sở sẽ triển khai siết chặt công tác quản lý đối với các cơ sở đóng mới, sửa chữa, cải hoán tàu cá trên địa bàn toàn tỉnh; kiên quyết không cho đóng mới tàu cá có công suất dưới 30CV, tàu làm nghề lưới kéo, đồng thời ngăn chặn tình trạng tàu đánh cá trái phép ở vùng biển nước ngoài.

Ông Dương Cao Hội, khu Đồng Mát, phường Tân An, TX Quảng Yên:
“Cần đảm bảo môi trường nuôi trồng thuỷ sản cho người dân”

 

Hiện môi trường nuôi trồng thuỷ sản đang bị ô nhiễm, khiến năng suất của các mùa vụ giảm mạnh từ 20-30% so với 5 năm trước. Một trong những nguyên nhân là do thời tiết ngày càng khắc nghiệt, biến đổi khí hậu, khiến nhiều loại thuỷ sản chưa kịp thích nghi. Bên cạnh đó, nước thải sinh hoạt của nhiều hộ dân, khu công nghiệp đổ ra sông, suối dẫn vào đầm nuôi trồng thuỷ sản, khiến nguồn nước này bị ô nhiễm. Chúng tôi rất mong các ban, ngành sớm có phương án, quy hoạch xây dựng các đường thoát nước thải xa khu vực nuôi trồng để đảm bảo chất lượng môi trường cho người dân.

Bà Nguyễn Thị Nhung, tổ 9, khu 1, phường Trần Hưng Đạo, TP Hạ Long:
“Cần xây dựng thương hiệu thuỷ sản uy tín của Quảng Ninh”

 

Mỗi lần về thăm Quảng Ninh, bạn bè và người thân của tôi đều rất thích dùng các loại hải sản tươi sống. Trong đó, chả mực, mực khô, tôm khô, các loại hải sản tươi sống được bạn bè và người thân của tôi mua về làm quà rất nhiều. Tuy nhiên, phần lớn các loại hải sản này vẫn do tôi đích thân đi chợ và chuẩn bị. Trong khi đó, nhiều khách du lịch có nhu cầu mua hải sản về làm quà vẫn còn băn khoăn về chất lượng, không biết nhiều địa chỉ uy tín để mua. Tôi đề nghị các ban, ngành cần có sự kiểm duyệt chất lượng đối với các loại hải sản, tạo các thương hiệu và hướng dẫn những địa chỉ uy tín để khách du lịch có cơ hội mua sắm và thưởng thức các loại hải sản nổi tiếng của Quảng Ninh.

Bà Phạm Thu Trang, đường Lê Thánh Tông, phường Hồng Gai, TP Hạ Long:
“Cần tạo niềm tin cho người tiêu dùng từ vấn đề an toàn thực phẩm thuỷ sản”

 

Thuỷ sản là món ăn ưa thích của các thành viên trong gia đình tôi. Tuy nhiên, hiện nay trước thực trạng dùng kháng sinh trong nuôi trồng thuỷ sản, bơm tạp chất vào tôm, cá... mà quan sát bằng mắt thường rất khó phát hiện ra, khiến chúng tôi không khỏi e ngại, đắn đo trong lựa chọn, sử dụng thuỷ sản. Theo tôi, để ngành thuỷ sản phát triển bền vững, một phần phải kích cầu tiêu dùng. Nhưng để kích cầu tiêu dùng, cần chú trọng uy tín, chất lượng thuỷ sản. Muốn vậy, phải tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người đánh bắt, nuôi trồng, kinh doanh thuỷ sản để tạo sản phẩm an toàn cho người tiêu dùng. Đây cũng là cách để xây dựng thương hiệu thuỷ sản Quảng Ninh, từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ không chỉ trong tỉnh, mà ra cả nước. Bên cạnh đó, nhiều khu vực bán, cung cấp thuỷ sản trên địa bàn tỉnh cần được đầu tư quy mô hơn, thay vì tình trạng nhiều điểm chợ vẫn bày bán cá, tôm, mực... dưới nền đất lênh láng nước, gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm.

Hoàng Quỳnh - Thu Nguyệt

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.