TKV: Vững vàng làm chủ công nghệ hiện đại

Thứ Sáu, 11/11/2016, 07:57 [GMT+7]
.
.

Để phát triển bền vững, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chủ trương tập trung cao độ trong việc triển khai ứng dụng công nghệ hiện đại vào tất cả các khâu sản xuất từ khai thác đến chế biến và vận chuyển than. Điều này đã góp phần nâng cao vị thế, nâng cao tính cạnh tranh của hòn than Việt Nam và cải thiện mạnh mẽ điều kiện làm việc cho thợ mỏ.

 Đầu tư thiết bị vận tải cỡ lớn phục vụ khai thác than lộ thiên tại Công ty Than Cao Sơn.
Đầu tư thiết bị vận tải cỡ lớn phục vụ khai thác than lộ thiên tại Công ty Than Cao Sơn.

CƠ GIỚI HOÁ TRONG KHAI THÁC HẦM LÒ

Theo thống kê, TKV hiện có 13 đơn vị khai thác than hầm lò với 478 lò chợ hoạt động trong kỳ và 196 lò chợ khai thác đồng thời. Cùng với việc sản lượng khai thác hầm lò ngày càng tăng, số lượng mét đào lò của các đơn vị trong TKV cũng ngày một lớn.

TKV đang nỗ lực triển khai Chương trình “Phát triển áp dụng cơ giới hoá đào lò và khai thác tại các mỏ hầm lò Vùng than Quảng Ninh, giai đoạn 2016-2020, lộ trình đến năm 2030” đảm bảo mục tiêu đề ra:

1. Cơ giới hoá trong khai thác hầm lò
Phấn đấu đến năm 2020, sản lượng than từ cơ giới hoá đồng bộ chiếm 15% tổng sản lượng khai thác; giai đoạn 2021-2025 tăng sản lượng cơ giới hoá đồng bộ lên 20%; giai đoạn 2026-2030 tăng sản lượng cơ giới hoá đồng bộ lên 25%.

2. Cơ giới hoá trong khai thác lộ thiên
Phấn đấu đến năm 2020, cơ giới hoá đồng bộ toàn bộ các khâu bốc xúc, vận chuyển đất đá và khai thác than; những năm tiếp theo tự động hoá liên động tất cả các khâu trong quá trình sản xuất.

3. Cơ giới hoá trong sàng tuyển, vận chuyển than
Phấn đấu đến năm 2020 tăng tối thiểu 35% năng suất lao động so với hiện tại; những năm tiếp theo tăng tối thiểu 5% năng suất lao động/năm.

4. Áp dụng công nghệ trong quản lý
Phấn đấu giảm tỷ lệ tổn thất trong công nghệ khai thác; đối với các mỏ lộ thiên phải nhỏ hơn 4-5%, trong khai thác than hầm lò nhỏ hơn 22-25% (tuỳ theo điều kiện địa chất, kỹ thuật mỏ của từng đơn vị) trong các năm tiếp theo phấn đấu hằng năm giảm tối thiểu 5% so với năm trước.

5. Nâng cao chất lượng dịch vụ sửa chữa
Cung cấp phụ tùng đáp ứng yêu cầu sửa chữa các thiết bị công nghệ trong toàn ngành, phấn đấu đáp ứng 100% nhu cầu sửa chữa lớn cấp trung - đại tu các thiết bị công nghệ sử dụng trong khai thác, chế biến, vận tải than và khoáng sản. Tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo đáp ứng nhu cầu thiết bị và phụ tùng cho toàn ngành với tỷ trọng từ 65-75% vào năm 2020.

Thực hiện yêu cầu này, ngay từ khâu thiết kế xây dựng, Tập đoàn đã tính đến mức độ áp dụng cơ giới hoá cao, thiết bị hiện đại, công suất lớn (như các dự án của Hà Lầm, Núi Béo, Hạ Long...), tăng cường phát triển cơ  giới hoá khai thác than hầm lò. Đến nay, các đơn vị đã thay thế gần như hoàn toàn gỗ chống lò bằng cột chống thủy lực, giàn chống tự hành. Đối với các vỉa dốc đã ứng dụng thành công công nghệ khai thác, chống giữ lò chợ bằng tổ hợp dàn chống tự hành 2 Ansha, công nghệ này đã tăng năng suất lao động đạt từ 8-10 tấn/công và tổn thất than chỉ còn khoảng 11%, mức độ an toàn và điều kiện làm việc của công nhân được cải thiện đáng kể. Đến nay, phần lớn các đơn vị hầm lò đã thực hiện đồng bộ thiết bị cơ giới hoá trong khai thác như các Công ty: Hà Lầm, Khe Chàm, Vàng Danh, Nam Mẫu, Mạo Khê, Hồng Thái, Dương Huy, Thống Nhất, Hạ Long, Mông Dương... với các loại dàn chống tự hành như Vinaalta, 2Ansha...  Các đơn vị cũng đã sử dụng đồng bộ thiết bị dàn khoan, máy xúc, dây chuyền vận tải trong đào chống lò đá. Các loại máy liên hợp đào lò như AM50, AM45 với dây chuyền vận tải đồng bộ. Phát triển sử dụng các loại vì neo bê tông cốt thép, bê tông phun, neo dẻo trong các đường lò đá, lò than làm tăng năng suất lao động, tăng độ an toàn, giảm tiêu hao gỗ, thuốc nổ, góp phần bảo vệ môi trường.  

Có thể khẳng định, các đơn vị khai thác hầm lò của TKV đã làm chủ công nghệ và xây dựng được lực lượng cán bộ kỹ thuật có đủ trình độ, năng lực để thiết kế, chỉ đạo, giám sát việc thi công chống lò bằng vì neo. Tỷ lệ than khai thác các lò chợ có lò chợ sử dụng cột thuỷ lực đơn, giá chống/khung chống thuỷ lực di động so với tổng số than hầm lò đã đạt trên 95%. Việc áp dụng thành công công nghệ lò này đã góp phần quan trọng trong lộ trình hiện đại hoá ngành công nghiệp khai thác khoáng sản và nâng cao sản lượng, mức độ an toàn, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.

HIỆN ĐẠI HOÁ CÁC KHÂU PHỤ TRỢ

Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện các công nghệ cơ giới hoá đồng bộ khai thác hầm lò, Tập đoàn đã tập trung đầu tư thiết bị xúc bốc, vận tải có công suất lớn trong khai thác than lộ thiên để giảm chi phí. Đối với khâu sàng tuyển và chế biến than, Tập đoàn sẽ áp dụng công nghệ mới, tự động hoá tối đa các công đoạn để giảm ô nhiễm môi trường, giảm khâu lao động nặng nhọc cho thợ mỏ...

Theo đó, TKV đã triển khai áp dụng đồng bộ thiết bị cơ giới hoá công suất lớn như: Ô tô có tải trọng đến 100 tấn, máy khoan đường kính lớn, máy xúc thủy lực gầu ngược dung tích 12m3, hệ thống vận tải liên hợp ô tô - băng tải, dùng máy cầy xới giảm khoan nổ mìn (DR10)... Đặc biệt, các đơn vị cũng đã áp dụng thành công công nghệ đào sâu đáy mỏ hai mức, dùng tàu hút bùn để chống bùn nước mùa mưa, lựa chọn hình dạng bờ mỏ và khoan giảm áp lựa nước ngầm giữ ổn định bờ trụ... Công nghệ thông tin cũng được ứng dụng rộng rãi, duy trì hoạt động hệ thống mạng thông tin nội bộ, website Tập đoàn, hệ thống quản lý văn bản Vinacomin - Portal. Tất cả các đơn vị đều nối mạng liên kết nội bộ và quốc tế để trao đổi thông tin, dữ liệu nhanh chóng, kịp thời. Một số phần mềm chuyên nghiệp được sử dụng rộng rãi, phần mềm tích hợp đa chức năng được triển khai phục vụ việc mô hình hoá và lưu giữ, xử lý dữ liệu thuận tiện, chính xác. Sử dụng công nghệ GPS động để đo chi tiết địa hình mỏ than. Lắp đặt hệ thống định vị toàn cầu GPS cho các phương tiện vận tải để quản lý cung đường tự động.

Trong sản xuất cơ khí, thiết bị điện, Tập đoàn cũng đã từng bước hiện đại hoá cơ khí sửa chữa, phát triển cơ khí chế tạo. Các sản phẩm cơ khí chủ lực được sản xuất tại các nhà máy cơ khí trong Tập đoàn như lắp ráp ô tô vận tải, sản xuất các loại vì chống thuỷ lực và dàn chống tự hành, chế tạo các loại máy xúc sử dụng trong mỏ hầm lò, lộ thiên, sản xuất tàu điện mỏ, khởi động từ, biến áp phòng nổ, ứng dụng biến tần, khởi động mềm và các giải pháp tiết kiệm điện năng... Trong hoạt động bảo vệ môi trường, Tập đoàn cũng đã áp dụng công nghệ xử lý ô nhiễm, ứng dụng các công nghệ hiện đại trong xử lý nước thải từ các mỏ than, xử lý chất thải nguy hại...

Việc không ngừng đầu tư mạnh mẽ công nghệ tiên tiến đã và đang giúp TKV tạo ra những giá trị thiết thực không chỉ cho sản xuất, mà còn bảo đảm những mục tiêu ổn định, dài hơi trong chiến lược phát triển bền vững của Tập đoàn.

Lê Hải

.
.
.
.
.
.
.
.