Ổn định đời sống dân cư dọc tuyến biên giới

Để người dân yên tâm “lạc nghiệp”

Thứ Hai, 04/06/2012, 05:40 [GMT+7]
.
.

Do đặc thù các xã biên giới đều là các địa bàn vùng sâu, xa, địa hình phức tạp, núi cao hiểm trở đi lại khó khăn nên hạn chế rất nhiều trong việc tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật cũng như thu hút các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Cộng với xuất phát điểm về kinh tế - xã hội thấp nên dù trong những năm qua từ nhiều nguồn lực khác nhau tỉnh đã tập trung đầu tư rất nhiều cho khu vực này, nhưng khoảng cách phát triển với các khu vực khác trong tỉnh vẫn rất xa.

Trồng rau màu phục vụ đời sống sinh hoạt của một hộ dân định cư ở xã Hải Sơn (Móng Cái).
Trồng rau màu phục vụ đời sống sinh hoạt của một hộ dân định cư ở xã Hải Sơn (Móng Cái).

Ông Phan Văn Cần, Chi cục trưởng Chi cục HTX phát triển nông thôn (Sở NN&PTNT) cho biết: Trong giai đoạn trước tính đến hết năm 2011 Quảng Ninh đã di chuyển ra biên giới được trên 500 hộ, ổn định dân cư tại chỗ được trên 2.000 hộ và hình thành được 7 điểm dân cư mới dọc tuyến biên giới trên bộ của tỉnh là Khe Lánh I, Khe Lánh II, Cống Mằn Thìn, Nà Dun, Trình Tường, Phật Chỉ, Lục Phủ. Bằng nguồn vốn bố trí sắp xếp dân cư và vốn lồng ghép từ các chương trình 120, 135, 134, vốn Kinh tế quốc phòng, ngân sách huyện…, trên địa bàn các xã biên giới đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh như nâng cấp đường giao thông, xây dựng công trình thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt, trường học, cơ sở y tế, nhà văn hoá, điện... Tuy nhiên, so với yêu cầu thì hiện nay các công trình hạ tầng ở vùng biên giới mới đáp ứng được khoảng 50-60%. Việc đầu tư mới chỉ tập trung ở trung tâm xã và các thôn, bản lân cận, còn ở các thôn, khe bản vùng sâu kết cấu hạ tầng vẫn còn khó khăn, đặc biệt là hệ thống giao thông, các công trình thuỷ lợi, nước sạch và điện sinh hoạt. Hơn nữa do địa hình núi cao bị chia cắt gây khó khăn cho việc triển khai xây dựng các công trình hạ tầng. Cũng vì nguồn vốn đầu tư so với nhu cầu thực tế rất hạn chế, không thể tập trung đầu tư đồng bộ và dứt điểm các công trình ưu tiên trong thời gian sớm nhất (1-2 năm) như: Các công trình đường ra biên giới, đường vành đai biên giới, đường lên các mốc biên giới, đường giao thông nối các cụm dân cư tập trung, hệ thống công trình thuỷ lợi… Chính vì điều kiện cơ sở hạ tầng chưa thể đáp ứng được nên công tác bố trí sắp xếp và ổn định dân cư biên giới gặp nhiều khó khăn.

Ngoài những khó khăn do nguồn lực đầu tư còn hạn chế việc ổn định và nâng cao đời sống của các hộ di dân ra sinh sống ở khu vực giáp biên còn do chính năng lực phát triển nội tại của các hộ dân tại đây. Dù rằng trên địa bàn các xã biên giới sản xuất nông - lâm nghiệp trong những năm qua liên tục được mùa, năng suất cây trồng tăng nhanh, các xã biên giới đã tự cân đối được lương thực, nhiều hộ gia đình không bị đói vào những tháng giáp vụ. Nhưng vì phần lớn các hộ được đưa ra định canh định cư ở khu vực này là những hộ nghèo, thiếu vốn, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất và phong tục tập quán trì trệ, lạc hậu, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Sản xuất chủ yếu là nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ lẻ, chưa có sản xuất hàng hoá; các ngành kinh tế khác như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ vẫn chậm phát triển. Ngoài hệ thống chợ trên địa bàn các xã biên giới như Hoành Mô, Đồng Văn (Bình Liêu), Quảng Đức (Hải Hà) phát triển tương đối nhanh, các xã còn lại hoạt động thương mại mới chỉ đáp ứng các nhu cầu cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu, vật liệu xây dựng và một số nhu cầu tiêu dùng khác trong nhân dân.

Do việc quản lý di dân ở một số địa bàn chưa có quy hoạch từ đầu nên việc quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn, không nắm được đất sử dụng của các hộ. Tình trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai giữa dân cũ và dân mới đến vẫn còn xảy ra ở một vài nơi. Quỹ đất sản xuất trên văn bản thì nhiều nhưng rất khó bố trí cho các hộ mới đến, đặc biệt là ở các địa bàn đã có dân cũ sinh sống. Mặc dù tỉnh đã ban hành chính sách đặc thù di dân nội tỉnh ra tuyến biên giới để hỗ trợ thêm về nhà ở, về phát triển sản xuất cho hộ di dân, thế nhưng ngoài đầu tư được nhà ở thì các công trình phụ như nhà bếp, khu vệ sinh phục vụ sinh hoạt hàng ngày vẫn do người dân tự đảm nhiệm trong khi đây đều là những hộ nghèo không có tiền đầu tư làm mới nên vẫn còn rất nhiều nơi các công trình phụ vẫn rất tạm bợ, không theo quy hoạch, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường và cảnh quan chung khu vực biên giới. Dù đất lâm nghiệp nhiều nhưng từ những năm đầu 2000, UBND tỉnh đã tạm giao cho Dự án Khu kinh tế quốc phòng 327 - Quân Khu 3 quản lý, sử dụng, hiện các đơn vị bộ đội đã trồng rừng, khi đưa dân đến định cư thì phần diện tích này chưa được giao lại cho dân chăm sóc, bảo vệ. Đến nay các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương vẫn đang tiến hành rà soát, lập phương án giao lại đất sản xuất lâm nghiệp cho các hộ dân ở địa bàn các xã biên giới để quản lý, sử dụng.

Cũng theo ông Phan Văn Cần thì từ nay đến năm 2015, công tác bố trí dân cư tuyến biên giới của tỉnh tập trung vào việc thực hiện ổn định tại chỗ dân cư ở các thôn, bản giáp biên, đặc biệt quan tâm tới các điểm dân cư mới được hình thành. Đồng thời tiếp tục tổ chức di dân đến các thôn, bản còn ít và trống dân thuộc địa bàn các xã Hoành Mô, Đồng Văn, Đồng Tâm (Bình Liêu), Quảng Đức, Quảng Sơn (Hải Hà) và một số vùng thuộc địa bàn xã Hải Sơn, Bắc Sơn (Móng Cái) để khai thác tiềm năng đất đai, mặt nước, phát triển rừng đầu nguồn, cải tạo môi sinh - môi trường. Phân bố lại các cụm dân cư trên vành đai biên giới, tạo lực lượng tại chỗ, xây dựng thế trận an ninh - quốc phòng toàn dân. Theo đó, sẽ bố trí sắp xếp và ổn định tại chỗ tại các thôn, bản giáp biên giới 1.170 hộ, trong đó: ổn định tại chỗ 1.000 hộ; bố trí, sắp xếp: 170 hộ. Với nhu cầu vốn ổn định dân cư các xã biên giới trong 5 năm (2011-2015) là 220,608 tỷ đồng, để xây dựng kết cấu hạ tầng, di chuyển dân, hỗ trợ phát triển sản xuất. Nhìn lại quá trình thực hiện của giai đoạn trước năm 2011 cho thấy để hoàn thành mục tiêu trong giai đoạn này và để người dân yên tâm “lạc nghiệp” ở khu vực quan trọng này rất cần có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa cả về cơ sở vật chất và nâng cao nhận thức cho dân cư khu vực giáp biên.

Ngọc Lan

.
.
.
.
.
.
.
.