Thực hiện “Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản”

Chặt chẽ nhưng vẫn “vướng”

Thứ Bảy, 26/05/2012, 05:51 [GMT+7]
.
.

Thông tư 01 ngày 4-1-2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về “Quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản” có hiệu lực từ ngày 18-2-2012. Sau gần 3 tháng triển khai thông tư này, theo đánh giá của ngành chức năng thì thông tư đã đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh của pháp luật trong việc quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản. Các quy định bước đầu đã rõ ràng, dễ hiểu, đáp ứng yêu cầu bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, theo ý kiến của hầu hết các chủ rừng, thông tư này cũng gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp và người dân.

Thực hiện Thông tư 01, các chủ rừng sẽ phải xác nhận bảng kê lâm sản khi khai thác, vận chuyển.
Thực hiện Thông tư 01, các chủ rừng sẽ phải xác nhận bảng kê lâm sản khi khai thác, vận chuyển.

Thông tư 01 được ban hành nhằm thay thế cho Quyết định số 59/QĐ-BNN ngày 10-10-2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành quy định về kiểm tra, kiểm soát lâm sản. Theo đó, hiện nay, một số quy định tại Quyết định số 59 đã không còn phù hợp với yêu cầu về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, chưa gắn kết hoạt động quản lý lâm sản với quản lý rừng bền vững, chưa tạo cơ chế bảo đảm giám sát nguồn gốc lâm sản; một số quy định đã bị lợi dụng nhằm hợp thức hoá lâm sản có nguồn gốc bất hợp pháp, khó khăn cho việc giám sát, kiểm tra phát hiện, xử lý vi phạm của ngành chức năng.

Ông Nguyễn Văn Khuyên, Trưởng phòng Thanh tra - Pháp chế, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh cho biết: Để triển khai Thông tư 01, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh đã tổ chức tập huấn trong toàn lực lượng; chỉ đạo hạt kiểm lâm các địa phương tham mưu cho UBND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh tổ chức triển khai các nội dung quy định của Thông tư. Đến nay, 14/14 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đã triển khai thực hiện; tổ chức thông tin, tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để các chủ rừng, người dân hiểu và thực hiện các quy định này; tập huấn cho các chủ rừng, UBND cấp xã; in và cấp phát thông tư và các nội dung liên quan ban hành kèm theo Thông tư 01. Tuy nhiên, theo ý kiến của một số chủ rừng, hiện nay việc thực hiện Thông tư 01 còn nhiều vướng mắc, trong đó có việc xác nhận bảng kê lâm sản hợp pháp khi lưu thông.

Theo số liệu thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay tổng diện tích rừng trên địa bàn tỉnh có trên 316.578,7ha, trong đó rừng tự nhiên 146.513,9ha, rừng trồng 170.064,8ha. Riêng đối với diện tích rừng sản xuất, diện tích rừng trồng keo chiếm diện tích lớn và phần lớn diện tích đã đến tuổi được khai thác, nhu cầu xin phép khai thác và xác nhận nguồn gốc lâm sản hợp pháp hàng ngày của các chủ rừng (Công ty Lâm nghiệp, doanh nghiệp trồng rừng, hộ gia đình được giao đất trồng rừng) là rất lớn. Việc xác nhận của Hạt kiểm lâm sở tại hoặc UBND xã vào bảng kê lâm sản cho từng chuyến xe vận chuyển gỗ gặp khó khăn, bất cập nếu từng chuyến xe vận chuyển, kiểm lâm địa bàn phải đến tận nơi khai thác để lập biên bản kiểm tra trước khi Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm hoặc Chủ tịch UBND cấp xã xác nhận. Có xã diện tích rừng lớn, địa hình phức tạp, xa xôi, hẻo lánh, trong khi kiểm lâm địa bàn đang thiếu, hoặc khi người có thẩm quyền xác nhận bận việc, hoặc có nhiều việc thực hiện trong ngày, do vậy việc xác nhận sẽ không kịp thời dẫn đến hao hụt sản lượng, thiệt hại về kinh tế cho chủ lâm sản.

Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Bắc, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Cẩm Phả cho hay: Hiện nay, Công ty chúng tôi đang quản lý trên 11.700ha rừng và đất rừng sản xuất, chiếm 44,5% diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn Cẩm Phả. Việc thực hiện Thông tư 01 về quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản đã gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Trong khi nhiều diện tích rừng của Công ty thực hiện trồng tại những địa bàn xa xôi, hẻo lánh, khi khai thác tốn rất nhiều thời gian trong việc mời kiểm lâm địa bàn đến kiểm tra, sau đó lại quay về UBND xã xác nhận. Vì việc này mà Công ty phải tăng thêm 5 lao động. Tính bình quân, mỗi ha rừng khi được khai thác sẽ phải vận chuyển từ 7-10 chuyến xe. Như vậy, với diện tích rừng như trên, Công ty đã phải chi phí thêm một khoản khá lớn.

Không chỉ các Công ty lâm nghiệp khó khăn khi thực hiện các quy định này, hầu hết các doanh nghiệp trồng rừng, người dân trồng rừng bằng nguồn vốn tự có khi được hỏi đều cho rằng việc thực hiện xác nhận bảng kê lâm sản và một số quy định khác của Thông tư 01 đã tăng thêm chi phí và tốn nhiều thời gian đối với hoạt động khai thác rừng của các chủ rừng. Thiết nghĩ, việc ban hành và tổ chức thực hiện Thông tư 01 nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ tài nguyên rừng và tránh bất lợi, rủi ro cho doanh nghiệp, song cũng cần phải xem xét, quan tâm tháo gỡ những khó khăn, bất cập cho các chủ rừng trong việc thực hiện Thông tư này.

Hữu Việt

.
.
.
.
.
.
.
.