Giải pháp cho ngành nông nghiệp phát triển

Thứ Tư, 31/07/2019, 08:20 [GMT+7]
.
.

Ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực nông nghiệp được xem là bước đột phá để xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại. Tại Quảng Ninh, những năm gần đây, công nghệ sinh học đã được ứng dụng rộng rãi vào trồng trọt, chăn nuôi, mang lại hiệu quả rõ rệt.

Mô hình nuôi tôm Cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh kiểm tra chất lượng tôm nuôi áp dụng công nghệ semi biofloc.
Mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ sinh học Semi biofloc đang được nhiều hộ nuôi tôm áp dụng. (Trong ảnh: Cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh kiểm tra chất lượng tôm nuôi áp dụng công nghệ Semi biofloc) Ảnh: Cao Quỳnh

Là một trong những hộ đầu tiên trên địa bàn ứng dụng công nghệ sinh học Semi biofloc vào nuôi tôm thẻ chân trắng, ông Bùi Văn Trình (xã Vạn Ninh, TP Móng Cái) cho biết: Trước kia nuôi tôm theo phương pháp truyền thống, nguồn nước nuôi luôn tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh, khiến tỷ lệ tôm sống kém. Được sự hỗ trợ, tư vấn của thành phố và cán bộ khuyến nông, gia đình tôi đã thử nghiệm chuyển sang quy trình nuôi tôm theo công nghệ sinh học Semi biofloc. Thời gian đầu thử nghiệm cho thấy hiệu quả cao hơn hẳn, lượng thức ăn giảm khoảng 30%, tỷ lệ nuôi thành công luôn đạt trên 80%. Hiện gia đình tôi đang có gần 7ha đầm tôm, hằng năm cho thu nhập từ 3-4 tỷ đồng.

Mô hình nuôi tôm ứng dụng chế phẩm sinh học Semi biofloc được Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai đầu tiên tại TP Móng Cái. Sau thời gian thí điểm, mô hình này đã cho thấy những hiệu quả tích cực. Theo đó, chế phẩm sinh học biofloc sẽ nâng cao tỷ lệ sống của tôm, quản lý được môi trường nuôi, thức ăn, hóa chất… Đồng thời, đảm bảo được chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm, không gây ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh. Hiện mô hình này cũng đang được nhiều hộ nuôi tôm trên địa bàn tỉnh áp dụng.

Trong lĩnh vực trồng trọt, nhiều doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất cũng đã chủ động ứng dụng công nghệ sinh học, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Điển hình như mô hình trồng rau thủy canh của các công ty: CP Đầu tư xây dựng và Thương mại 188 (Đông Triều); CP Đầu tư Song Hành (TX Quảng Yên)... Các loại rau được trồng trong khu vực nhà màng, lưới che tự động, quạt gió, máy điều chỉnh nhiệt độ, máng thủy canh, hệ thống lọc nước, ống bơm và dẫn nước dinh dưỡng. Các chất dinh dưỡng được hòa tan trong nước theo tỷ lệ phù hợp, vừa đủ, nên sản phẩm cuối cùng không còn tồn dư hóa chất hay phải cách ly đủ ngày như cây trồng thổ canh… Việc trồng rau này tuân thủ nghiêm ngặt, không sử dụng hóa chất, phân hóa học, thuốc trừ sâu, đem đến chất lượng rau an toàn.

Mô hình trồng rau thủy canh tại TX Quảng Yên
Mô hình trồng rau thủy canh tại TX Quảng Yên.

Năm 2014, Viện Di truyền nông nghiệp và Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Linh Lam đã sử dụng chế phẩm AT Bio-decomposer và chế phẩm vi sinh AT-YTB xử lý rơm rạ trên đồng ruộng tại các xã: Hoàng Quế, Hưng Đạo, Bình Dương, Nguyễn Huệ (Đông Triều). Kết quả cho thấy, ruộng được xử lý bằng chế phẩm sinh học, rơm rạ phân hủy nhanh hơn, không còn khí độc, tăng chất khoáng và vi sinh vật hữu ích cho đất, cải tạo đất, nên lúa nhanh bén rễ hồi xanh, năng suất cao hơn từ 10-15%. Hiệu quả mô hình đang được các nông hộ trồng lúa ở Quảng Yên, Đông Triều áp dụng.

Ngoài ra, việc sử dụng chế phẩm sinh học cũng được nhiều hộ chăn nuôi, HTX áp dụng để xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải, chất thải chăn nuôi, nhằm giảm nhanh mùi hôi thối,  khắc phục tình trạng mất vệ sinh môi trường, ức chế sinh vật có hại. Nhiều công trình hầm biogas, hầm ủ khí sinh học cũng được các gia đình, doanh nghiệp áp dụng rộng rãi để giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa dịch bệnh.

Có thể nói, ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp là một xu thế tất yếu, là hướng phát triển sạch và bền vững. Thời gian tới, ngành nông nghiệp Quảng Ninh cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học vào việc chọn, tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi, giống thuỷ sản; phòng, trừ dịch bệnh; ứng dụng các quy trình công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến, nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

Yến Vy

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.