Liên quan đến khiếu nại của ông Trần Văn Thái (TX Quảng Yên)

Không đủ điều kiện xác định thửa đất 283 là đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở

Thứ Năm, 13/08/2020, 08:27 [GMT+7]
.
.

Năm 2012, thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp QL18A đoạn từ TP Uông Bí đến TP Hạ Long, hộ gia đình ông Trần Văn Thái (trú tại phường Minh Thành, TX Quảng Yên) bị thu hồi 2.587,4m2 đất tại 2 thửa 220 và 283, tờ bản đồ địa chính số 10, phường Minh Thành. Trên cơ sở kiểm đếm của phòng, ban chức năng, UBND TX Quảng Yên phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho hộ ông Thái. Tuy nhiên, không đồng ý với phương án bồi thường, ông Thái có đơn gửi chính quyền các cấp.

QL18A đoạn qua TX Quảng Yên.
QL18A đoạn qua phường Minh Thành, TX Quảng Yên.

Theo xác minh của Thanh tra tỉnh, tổng diện tích thu hồi của hộ ông Thái là 2.587,4m2 đất, trong đó 107m2 đất ở thuộc thửa 220 và 2.480,4m2 đất nông nghiệp tại thửa 283. Năm 2018 ông Thái có đơn khiếu nại, đề nghị được xác định toàn bộ diện tích thu hồi thuộc thửa 283 là đất vườn ao trong cùng thửa đất có nhà ở để được hỗ trợ 50% giá đất ở theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Quyết định 499/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh. Khiếu nại của ông Thái không được UBND TX Quảng Yên chấp nhận, do vậy, ông đã tiếp khiếu lên tỉnh.

Căn cứ hồ sơ địa chính phường Minh Thành được thành lập năm 1994 thì gia đình ông Thái quản lý, sử dụng 2 thửa đất: thửa số 220 có diện tích 1.190m2, ký hiệu “T” đất thổ cư và thửa 283 có diện tích 3.770m2, ký hiệu vườn bạch đàn.

Năm 2006, hộ ông Thái được cấp GCNQSDĐ với tổng diện tích 940m2, mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn, thuộc thửa 220. Đối với thửa 283 chưa được cấp GCNQSDĐ.

Về nguồn gốc, quá trình quản lý và sử dụng 2 thửa đất số 220, 283, theo bản chứng nhận nhà, đất ngày 26/11/2012 và biên bản xét duyệt của Hội đồng đăng ký đất đai phường Minh Thành ngày 19/7/2019, nguồn gốc nhà đất của bố mẹ đã xây dựng để ở từ những năm 1960, liền kề có công trình đường ống xăng dầu nên nhà nước đã đền bù cho bố mẹ ông Thái di chuyển đi nơi khác. Năm 1980, ông Thái đi bộ đội về tiếp tục ở căn nhà đó và lấy vợ sinh sống từ đó đến nay. Trong giữa phần đất có đường ống xăng dầu nên phần đất trồng bạch đàn được ngăn cách với đất ở bởi đường ống xăng dầu. Năm 1993-1994 đo đạc lập bản đồ địa chính, lập sổ đăng ký ruộng đất đã thể hiện 2 thửa đất 220 và 283 là 2 thửa đất riêng biệt. Thửa 220 thể hiện là đất thổ cư, ông Thái đăng ký sổ địa chính là đất ở; thửa 283 thể hiện là đất bạch đàn.

Năm 1999, khi thực hiện GPMB QL18A, tại biên bản giao nhận diện tích thửa đất GPMB là thửa 21 tờ bản đồ GPMB số 2 tương ứng thửa 220 là thửa độc lập có thể hiện ranh giới cụ thể. Năm 2006, ông Thái lập hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ, tại biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa 220 là thửa đất ở có giáp ranh với các thửa 283, 219, 221. Hiện trạng công trình tại thời điểm thu hồi đất, thửa 220 ông Thái sử dụng vào mục đích để ở, thửa 283 sử dụng vào mục đích nông nghiệp (không có công trình để ở)

Về hồ sơ cấp GCNQSDĐ cũng thể hiện đây là hai thửa đất riêng biệt, thửa 220 được cấp GCNQSDĐ từ năm 2006, thửa 283 chưa được cấp GCNQSDĐ. Từ khi được cấp GCNQSDĐ (năm 2006) đến thời điểm thu hồi đất (năm 2012), hộ ông Thái không có ý kiến, kiến nghị gì về việc cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông và cũng không đề nghị cấp phần diện tích đất thuộc thửa 283 gộp vào GCNQSDĐ đã cấp.

Căn cứ vào hồ sơ tài liệu, kết quả xác minh về nguồn gốc, diễn biến quá trình sử dụng đất, cơ quan chức năng của tỉnh nhận thấy, tại thời điểm thu hồi đất, hộ gia đình ông Thái quản lý, sử dụng thửa đất 220 và 283 là hai thửa riêng biệt, được sử dụng vào mục đích khác nhau. Thửa 283 không có công trình để ở, do đó không đủ điều kiện được xác định là đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở để được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1, điều 87 Luật đất đai 2003 (áp dụng cho thời điểm thu hồi đất) và quy định tại khoản 1 Điều 17 Quyết định 499/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh. Do vậy, nội dung khiếu nại của ông Trần Văn Thái không có cơ sở xem xét giải quyết. Ngày 3/8/2020, UBND tỉnh có Quyết định 2706/QĐ-UBND không chấp nhận nội dung khiếu nại của ông Trần Văn Thái.

Trần Thanh

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.