Phóng sự-ghi chép

Những người giữ nghề rèn ở Hiệp Hòa

Thứ Hai, 02/07/2018, 07:24 [GMT+7]
.
.

Xã hội phát triển, ngày càng nhiều máy móc thay thế sức người khiến cho đồ sắt, thép thủ công dần bị thay thế bởi các sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt. Nghề rèn truyền thống cũng vì thế mà dần dần mai một. Thế nhưng len lỏi trong vùng làng quê Yên Trì – nay là xã Hiệp Hòa (TX Quảng Yên), vẫn còn đó những con người cần cù, bình dị, ngày đêm giữ “lửa” nghề được nối truyền từ đời này qua đời khác.

Qua thời vang bóng

Một trong những hộ mở lò rèn lâu đời nhất ở Hiệp Hòa phải kể đến gia đình ông Vũ Văn Vinh ở thôn 12. Ông Vinh năm nay bước sang tuổi 58 và đã bền bỉ giữ lửa nghề rèn truyền thống của dòng họ suốt gần 47 năm qua. Hơi nóng lửa than, tiếng ống bễ phì phò, tiếng búa nện xuống đe chát chúa, tiếng mài ken két của kim loại đã trở thành một phần cuộc sống thường ngày của người thợ cả này.

Khi chúng tôi tìm đến nơi thì “lò rèn” của ông Vinh đã đỏ lửa. Trong gian nhà rộng chừng 20m2, ba người đàn ông thoăn thoắt tay búa, đều và nhịp nhàng như múa. Để làm ra một sản phẩm, người thợ rèn phải trải qua rất nhiều công đoạn, từ cắt sắt tạo hình, nung, đập, nhúng nước, rồi lại nung, đập cho tới khi định hình sản phẩm thì đến khâu mài, dũa... Dường như những công đoạn ấy đã “ngấm vào máu” nên chẳng ai bảo ai mà vẫn làm thoăn thoắt.

Ông Vinh và người em trai phụ trách nung, gò sắt cho thành phôi. Khi chiếc quạt khò thổi cho lò than hồng rực, ông Vinh nhanh tay cời than rồi cầm cây kẹp dài gắp từng lưỡi dao đưa vào, xoay trở vài lần cho nóng đỏ rồi chuyển ngay ra đe, quai từng nhát búa uy lực mà đầy khéo léo. Còn con trai ông Vinh – anh Vũ Đức Vân (30 tuổi) thì đảm nhận công đoạn mài chuốt cho lưỡi dao thật sắc rồi tra cán. Cứ thế, “2 người làm nóng, 1 người làm nguội” rất nhịp nhàng.

Ông Vũ Văn Vinh (bên phải) đã gắn bó với nghề rèn gần cả cuộc đời.
Ông Vũ Văn Vinh (bên phải) đã gắn bó với nghề rèn gần cả cuộc đời.

Tranh thủ nghỉ tay, uống cốc nước mát, ông Vinh kể với chúng tôi: Tôi cũng không rõ nghề rèn ở Yên Trì có từ khi nào, chỉ biết là từ bé đã đã thấy ông nội, bố và các chú làm việc ở lò rèn này rồi. Người dân trong làng, thậm chí từ vùng khác cũng tìm đến đặt làm những vật dụng cần thiết trong đời sống gia đình và những dụng cụ lao động như dao, liềm, cuốc, rựa, xẻng, lưỡi cày… tùy theo nhu cầu của họ. Chẳng có món đồ nào làm khó được tay nghề của ông cụ thân sinh tôi cả. Cái khó nhất lúc ấy có lẽ là tìm nguyên liệu sắt thép để rèn rất hiếm chứ không nhiều như bây giờ.

Đến năm 15 tuổi, ông Vinh đã tự mình làm được hầu hết các công đoạn của nghề rèn, từ việc lựa chọn loại sắt, nổi lửa bếp lò, cho đến các khâu nung, đe búa, hàn gò, cưa mài…

Hàng xóm của ông Vinh, ông Nguyễn Văn Cư (57 tuổi) cũng là một “tay búa” lão luyện khác của Hiệp Hòa với trên 40 tuổi nghề rèn.

Ông Cư tâm sự: Trước đây, trong xã có nhiều gia đình làm nghề rèn. Đặc biệt, trong thời kháng chiến chống Pháp, Mỹ, phong trào cách mạng nổ ra, người thợ rèn cũng trở thành một chiến sỹ theo cách riêng của mình. Các lò rèn đều hết lòng phục vụ cách mạng, làm ra không biết bao nhiêu là vũ khí dao, kiếm, lưỡi lê sắc bén để góp sức diệt thù. Tôi vẫn còn nhớ khoảng thời gian diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới năm 1979, tôi cùng các thợ rèn trong làng có phong trào tham gia đánh những mũi chông sắt, tỉa ngạnh nhọn, chuyển số lượng lớn ra biên giới để làm bàn chông bẫy quân thù. Ròng rã hơn tháng trời tập trung làm, bình quân mỗi người rèn được trên dưới 10 cân chông sắt mỗi ngày mà không biết mệt.

Nguyên liệu rèn mà ông Vinh sử dụng là sắt phế liệu, có thể là nhíp xe tải hoặc ống khoan địa chất cũ.
Nguyên liệu rèn mà ông Vinh sử dụng là sắt phế liệu, có thể là nhíp xe tải hoặc ống khoan địa chất cũ.

Nhưng thời thế thay đổi, người không giữ được nghề, người thì chuyển sang vùng khác sinh sống nên toàn xã nay chỉ còn 4 nhà còn làm lò rèn.

Mặn mà với nghề suốt mấy chục năm nay, thế nhưng chính các ông Vinh, ông Cư cũng phải ngậm ngùi: Thực tâm, chúng tôi luôn muốn thế hệ sau giữ lấy nghề rèn gia truyền. Bởi đây là tâm huyết của cha ông mình để lại, là văn hóa và lịch sử của quê hương. Nhưng quả thực làm nghề “thổi lửa nung sắt” này rất cực nhọc, chỉ người “sức dài vai rộng” và có cả sự kiên nhẫn với nghề thì mới theo được. Vậy nên dù các con, cháu không muốn nối nghiệp thì cũng khó trách.

Đổi mới để giữ nghề

Tuy nhiên, muốn giữ cho được nghề truyền thống mà cứ mãi hoài niệm quá khứ, mãi dậm chân tại chỗ mà không chịu đổi mới cho phù hợp với cơ chế thị trường thì sớm muộn nghề cũng sẽ bị “chết mòn”. Do vậy, khi không thể cạnh tranh về giá cả với các sản phẩm công nghiệp, các lò rèn ở Hiệp Hòa vẫn có cách riêng để duy trì hoạt động ổn định. Đơn cử như đối với những khách hàng mua sản phẩm dao từ lò rèn của ông đều được bảo hành trong vòng 1 đến 2 tháng, có thể mang đến đổi, sửa, mài lại miễn phí. Cùng với đó, họ tập trung vào điểm khác biệt, thu hút khách hàng tìm mua, sử dụng các sản phẩm từ lò rèn thủ công, đó là: Những mẫu dao bóng bẩy, giá rẻ trên thị trường không thể có chất lượng vượt trội về độ sắc bén và bền chắc lâu dài như đồ rèn thủ công.

Chẳng có giày, găng tay, khẩu trang bảo hộ, công việc rèn sắt thưởng chỉ do đàn ông đảm nhận.
Do nặng ngọc nên việc rèn sắt thường chỉ do người đàn ông trong gia đình đảm nhận.

Nhằm rút ngắn thời gian gia công, tiết kiệm sức lao động, các chủ lò rèn còn chủ động đầu tư, trang bị nhiều máy móc, như: Quạt khò, máy cắt sắt, mày mài... thay thế một số công đoạn trong dây chuyền sản xuất, đưa năng suất lao động tăng từ 15 - 20 lần so với làm thủ công.

Ông Cư chia sẻ: Trước đây, tất cả các công đoạn sản xuất từ cắt phôi, quai búa, rèn, làm nóng, làm nguội… đều chủ yếu dựa vào sức người nên rất tốn công. Chẳng hạn như rèn xong một con dao, mang đi mài sắc cũng mất độ 1 tiếng đồng hồ, mà mài xong thì lưng áo cũng thấm mồ hôi cả rồi. Thay vào đó, dùng máy mài chỉ cần 5-10 phút là xong. Hay như việc dùng quạt khò để thổi bễ nung thay cho kéo bễ bằng tay rất tốn sức, tốn thời gian. Tất nhiên, cái hồn của sản phẩm rèn thủ công vẫn phụ thuộc 100% vào những kỹ thuật mà bắt buộc người thợ rèn phải trực tiếp thao tác.

Máy cắt kim loại được thợ rèn sử dụng để tiết kiệm thời gian, công sức.
Máy cắt kim loại được thợ rèn sử dụng để tiết kiệm thời gian, công sức.

Một cách làm khác của thợ rèn Hiệp Hòa đó là đa dạng hóa các sản phẩm. Đơn cử như tại lò rèn của ông Vinh, từ 6 năm trợ lại đây đã mày mò nghiên cứu và đưa sản phẩm lưỡi dao máy vào sản xuất chính thay vì chỉ quanh quẩn rèn dao rựa, lưỡi cuốc như trước. Lưỡi dao có hình dạng như cánh quạt máy với 2 phần lưỡi, ở giữa là lỗ nhỏ để bắt vào trục quay tròn, được sử dụng trong các máy xay thức ăn chăn nuôi, xay giò chả hoặc thậm chí xay đất để hút bùn, đào ao… rất hiệu quả.

Ông Vinh bảo: Để có được sản phẩm dao máy như vậy, tôi đã bỏ công nghiên cứu rất nhiều tài liệu, nhất là những kỹ thuật rèn nhiều lớp thép theo kiểu Nhật Bản để đảm bảo lưỡi dao dù dài ngắn ra sao vẫn có thể có lực xoay đều, có độ nghiêng chuẩn xác và nhất là có độ dẻo dai để không bị gãy khi lắp vào máy vận hành.

Một số sản phẩm rèn của những người thợ
Một số sản phẩm của những người thợ rèn Hiệp Hòa.

Cùng với những nỗ lực của các hộ lò rèn, thời gian qua, chính quyền địa phương cũng luôn chú trọng hỗ trợ, khuyến khích người dân gìn giữ, phát triển nghề truyền thống.

Đồng chí Vũ Khắc Hoàn, Chủ tịch UBND xã Hiệp Hoà, cho biết: Năm 2018, Ban chỉ đạo OCOP TX Quảng Yên đã phối hợp với Ban Chỉ đạo OCOP tỉnh, thẩm định và phê duyệt thêm 6 sản phẩm mới đủ điều kiện tham gia Chương trình OCOP tỉnh. Trong đó, sản phẩm Dao rèn đúc Văn Vinh của Cơ sở sản xuất Vũ Văn Vinh. Đây là tín hiệu mừng đối với nghề rèn đúc truyền thống của xã để quảng bá thương hiệu tới đông đảo người dân trong, ngoài tỉnh.

Tuy nhiên, cái khó hiện nay đó là số hộ còn giữ nghề rèn của xã còn rất ít, quy mô nhỏ lẻ. Cùng với đó, việc chưa có khu sản xuất tách biệt khu dân cư và đảm bảo mặt bằng đã phần nào hạn chế khả năng phát triển của làng nghề. Bởi thực tế nếu mở rộng quy mô sản xuất mà vẫn tiếp tục để các lò rèn nằm xen kẽ trong khu dân cư thì sẽ ít nhiều ảnh hưởng tới đời sống người dân bởi môi trường tiếng ồn, bụi bẩn và nhiều vấn đề liên quan phát sinh trong quá trình sản xuất. Vì vậy, trong thời gian tới, xã tiếp tục vận động các chủ lò rèn thành lập tổ hợp tác, tạo điều kiện cho người dân có nơi giao lưu, học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ nhau cùng sản xuất.

Nghề rèn thủ công ở Hiệp Hòa vẫn còn đó, được lưu giữ lại bởi tâm huyết của những người như ông Vinh, ông Cư, anh Vân. Mong rằng, nghề rèn vẫn mãi trường tồn cùng thời gian, để giữ gìn một nét văn hóa, lịch sử đặc sắc của mảnh đất này.

Hoàng Giang

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.