Chuyện những cô gái Kinh làm dâu người Sán Chỉ

Thứ Sáu, 24/11/2017, 12:14 [GMT+7]
.
.

Xã Đại Dực và xã Đại Thành (Tiên Yên) là nơi cư trú tập trung chủ yếu của đồng bào Sán Chỉ ở Quảng Ninh (xã còn lại là Húc Động, huyện Bình Liêu). Dân số cả hai xã ước khoảng hơn 3.000, trong đó, người Sán Chỉ chiếm trên dưới 95%. Xưa nay, do khác nhau về đời sống sinh hoạt, nhất là văn hoá, chuyện phụ nữ dân tộc khác lấy chồng người Sán Chỉ rất hiếm, như tại xã Đại Thành, cả xã chỉ duy nhất có một cặp vợ người Dao, chồng người Sán Chỉ.

Ấy vậy nhưng đã có những phụ nữ người Kinh từ miền ven biển Nam Định “cô chị dắt cô em” ra lấy chồng người Sán Chỉ ở Đại Dực. Duyên số của họ mỗi người một khác nhau nhưng có một điểm chung là tới nay, hầu hết trong số họ đã “Sán Chỉ hoá” từ ngôn ngữ, ăn mặc đến sinh hoạt…

 Khung cảnh thôn Phài Giác, xã Đại Dực như một bức tranh.
Khung cảnh thôn Phài Giác, xã Đại Dực giống như một bức tranh.

Chuyện của chị Hiền

Cách đây gần chục năm, trong chuyến đi tới xã Đại Dực (Tiên Yên) đưa tin về Ngày hội Văn hoá- thể thao dân tộc Sán Chỉ, tôi có đề nghị phỏng vấn 1 chị phụ nữ khoảng trên 40 tuổi về tục hát Soóng cọ. Từ dáng vẻ đến trang phục truyền thống đặc của phụ nữ Sán Chỉ gồm áo xanh, váy đen, đầu quấn khăn xanh. Tuy nhiên, chị cười bảo không phải người Sán Chỉ mà là người Kinh, quê ở Nam Định lấy chồng ra đây.

Cũng cần nói thêm, khoảng chục năm về trước, Đại Dực và Đại Thành (khi ấy là một xã) giống như chốn “thâm sơn cùng cốc” của Tiên Yên, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu, giao thông vô cùng khó khăn. Còn nhớ đêm ngủ nhờ tại phòng trọ của giáo viên, chia sẻ bát mì tôm cùng thầy giáo Phạm Văn Hoài (nay là Phó trưởng Ban Văn hoá- Xã hội, HĐND tỉnh), thầy Hoài kể với tôi rằng các thầy cô giáo dạy học ở đây tuần mới về nhà một lần do đường đi quá khó khăn.

Tôi nói như thế để bạn đọc hình dung bối cảnh Đại Dực khi đó như thế mà những người phụ nữ Kinh từ đồng bằng ra đây lấy những anh chồng người Sán Chỉ thì quả là…lạ.

Mang theo những băn khoăn, tò mò bấy lâu về cuộc sống của những nàng dâu người Kinh ấy ở Đại Dực ra sao, họ hoà nhập với văn hoá của người Sán Chỉ như thế nào, tôi đã trở lại Đại Dực.

Từ quốc lộ 18 vào Đại Dực, đường bê tông giờ đã mở để ô tô vào đến xã. Nhiều ngôi nhà ngói, nhà hai tầng đã mọc lên bên sườn đồi. Đại Dực giờ đã khác nhiều so với những năm trước.

Theo Phó Bí thư Đảng uỷ xã Nình Văn Cao, toàn xã Đại Dực hiện có khoảng gần 10 cặp vợ Kinh- chồng Sán Chỉ. Người lớn tuổi nhất sinh năm 1949, nhỏ nhất sinh năm 1981.

Tôi tìm đến nhà chị Vũ Thị Hiền (sinh năm 1966), vợ anh Lỷ A Quý (1971) ở thôn Phài Giác. Thật may, người dẫn đường cho tôi là ông Lỷ A Sáng, Nghệ nhân dân gian về hát Soóng cọ, Chủ tịch Hội người cao tuổi xã Đại Dực và cũng chính là bố chồng chị Hiền. Nhà chị Hiền nằm khuất nẻo trên một sườn đồi. Anh Quý là con cả của ông Sáng bị câm, điếc bẩm sinh.

Ông Lỷ A Sáng cùng anh Quý và chị Hiền.
Ông Lỷ A Sáng cùng anh Quý và chị Hiền.

Thấy bố và khách đến nhà, anh Quý ú ớ, cười, biểu lộ mừng rỡ. Ông Sáng làm dấu cho con trai đi tìm con dâu đang đào dong trên rừng về. Hiểu ý bố, anh Quý sốt sắng đi ngay.

Trong lúc chờ chị Hiền về, tôi có dịp quan sát ngôi nhà. Đó là ngôi nhà mái bằng, 3 gian còn mới. Đoán ý của tôi, ông Sáng cho biết, ngôi nhà cũ của vợ chồng anh Quý trước đây thấp tè, dột nát. Mỗi khi mưa to, vợ chồng anh cùng con lại phải ôm theo mấy con gà (tài sản lớn nhất) chạy vào nhà ông ở xóm bên để trú vì sợ nhà đổ. Thương con, 2 năm trước, bằng nhiều nguồn vay mượn, ông bà dốc lực xây cho vợ chồng anh Quý và các cháu ngôi nhà. Tổng kinh phí là 220 triệu đồng, trả tới nay vẫn còn nợ hơn một nửa.

Chuyện dở chừng thì chị Hiền từ trên rừng về đến nhà. Hiện lên trước mắt tôi là một phụ nữ với gương mặt lam lũ, vất vả, răng cửa đã gãy mất mấy cái, chân tay đầy chai sạn. Sau phút rụt rè, chị Hiền cũng đã ngồi xuống cạnh chồng và bố chồng tiếp chuyện khách.

 Thoạt tiếp xúc, thật khó nhận ra chị Hiền là phụ nữ người Kinh
Thoạt tiếp xúc, thật khó nhận ra chị Hiền là phụ nữ người Kinh

Chị Hiền tâm sự, quê chị ở xã Nghĩa Hải, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Gia đình chị có 6 chị em, chị là thứ ba. Năm 1990, 24 tuổi- cái tuổi ở quê đã được coi là ế, chị được một người quen ở xã lấy chồng ở Đại Dực (nay đã chuyển đi nơi khác) mai mối lấy anh Quý. Từ miền quê ven biển ra miền rừng núi thâm sâu, lại sống giữa cộng đồng người Sán Chỉ, chị bỡ ngỡ bước vào một thế giới hoàn toàn khác. Tập tục của người Sán Chỉ không cúng cha mẹ, tổ tiên, ăn uống cũng đơn giản. Các ngày lễ, tiết lớn nhất trong năm là Tết nguyên đán, kế đến là Tết Đoan ngọ (5-5), Tết Hàn thực (3-3), rằm tháng 7 (14-7), Tết cơm mới (tháng 10 âm lịch). Những ngày này, người Sán Chỉ thường chế biến một số món ăn từ thịt lợn, thịt gà, cá, rau; các loại bánh như bánh chưng, bánh cốc mò… Chị Hiền phải làm quen với việc đi rừng, nếp sinh hoạt, ăn uống, tập tục của người Sán Chỉ. Một trong những khó khăn nhất là ngôn ngữ và phải mất khoảng 10 năm, chị mới nghe, nói được tiếng Sán Chỉ.

Sống trong môi trường tự nhiên, chịu tác động bởi sinh hoạt, tập tục, các mối quan hệ, môi trường ngôn ngữ như thế nên đến nay, có thể nói chị Hiền từ ăn mặc, sinh hoạt, giao tiếp, thậm chí nếp nghĩ gần như đã trở thành người Sán Chỉ. Hai vợ chồng sinh được 6 con trai, không may 2 cháu đã mất từ nhỏ. Những đứa con mang hai dòng máu Sán Chỉ- Kinh theo họ bố lần lượt gồm: Lỷ A Phương, Lỷ A Chung, Lý A Thông, Lỷ A Dậu. Cậu cả Lỷ A Phương (1993) đã đi làm kiếm sống nhưng cả nhà không biết giờ Phương đang làm gì, ở đâu?

 Có ngôi nhà chắc chắn, gia đình chị Hiền không còn lo mỗi khi trời mưa bão
Có ngôi nhà chắc chắn, gia đình chị Hiền không còn lo mỗi khi trời mưa bão

Chị Hiền chia sẻ, anh Quý bị câm, điếc cũng biết giúp vợ đi rừng, làm ruộng nhưng phải tật uống rượu say vào hay chửi bới vợ (?). 27 năm qua, chỉ mới 1 lần chị dẫn chồng về quê Nam Định ra mắt gia đình là dịp mới cưới. Những năm trước, Đại Dực không chỉ giao thông mà còn là “ốc đảo” về thông tin liên lạc. Vậy mới có chuyện bố mẹ chị mất nhưng gia đình không thể báo tin cho chị, đến khi chị biết thì đã qua tuần 49 ngày. Ở quê Nam Định, các anh chị em kinh tế cũng khó khăn nên từ ngày chị lấy chồng mới có 1 anh trai ra đây thăm nhà em gái được một lần.

Chị Hiền cho biết, em gái mới báo tin sang tháng gia đình tổ chức bốc mộ cho bố mẹ, chị sẽ về quê. Hỏi về một mình hay hai vợ chồng? Chị Hiền cười, lúng túng bảo cũng chưa biết nữa. Ông Sáng đỡ lời: Còn phải lo có tiền mà đi không.

Những người hạnh phúc

Đối diện, cách nhà chị Hiền, anh Quý không xa, cùng thuộc thôn Phài Giác là nhà của một cặp vợ Kinh- chồng Sán Chỉ khác là bà Trần Thị Đào, chồng là ông Lý A Hoàng. Cả hai ông bà cùng tuổi (1960). Mẹ ông Hoàng là người Kinh quê ở Nam Định ra đây lấy bố ông Hoàng (vợ hai) đã mai mối cho con trai lấy vợ cùng quê. Ông Hoàng là giáo viên, dạy học ở Đại Dực gần 30 năm, xin nghỉ hưu trước tuổi năm 2015. Hai ông bà sinh được 3 con, đã lên chức ông bà nội, ngoại. Ngôi nhà của ông Hoàng được xây cất rộng rãi, mái bằng.

 Ông Lỷ A Hoàng cùng cháu nội.
Ông Lỷ A Hoàng cùng cháu nội.

Khi tôi đến, bà Đào vừa đi xuống xã Đông Ngũ chơi với con gái lấy chồng dưới ấy, chỉ có ông Hoàng ở nhà. Có lương hưu giáo viên, lại phát triển thêm nghề nấu rượu, chăn nuôi, con cái đã trưởng thành nên đời sống kinh tế của gia đình ông Hoàng, bà Đào theo Phó Bí thư Đảng uỷ xã Nình Văn Cao cũng vào hạng khá so với các gia đình ở xã.

Trong số những người phụ nữ Kinh lấy chồng Sán Chỉ ở Đại Dực, duy nhất có chị Trần Thị Quyên ở thôn Khe Lục là giáo viên, hiện công tác tại Trường Mầm non xã Đại Dực.

Chị Quyên (1974) kết hôn với anh Lỷ A Hồ (1981) qua mai mối của bà nội anh Hồ là người Kinh quê ở Nam Định, lấy ông nội anh Hồ là người Sán Chỉ. Hai vợ chồng chị Quyên sinh được 3 con (2 gái, 1 trai). Chị Quyên cho biết, chị kết hôn năm 2001. Sau khi sinh con gái đầu lòng, nhân có lớp đào tạo giáo viên mầm non cho các xã vùng sâu do Quỹ Nhi đồng Anh tài trợ, chị đăng ký đi học, tốt nghiệp, chị dạy học tại Trường mầm non xã Đại Dực đến giờ.

Chị Quyên cho biết, thuở mới lấy anh Hồ, chị đã phải tăng cường giao tiếp với dân bản để học tiếng Sán Chỉ. Đến nay, chị và các con đều nói thông thạo cả hai thứ tiếng Sán Chỉ và Kinh.

Chij Quyên hạnh phúc với những gì cuộc sống đang có.
Chị Quyên hạnh phúc với những gì cuộc sống đang có. (ảnh: FBNV)

Chị Quyên chia sẻ, đàn ông Sán Chỉ nhìn chung hiền lành, chăm chỉ. Giống như các dân tộc thiểu số khác, người Sán Chỉ rất mến khách, dù là khách lạ nên hễ khách đến nhà, thay vì rót nước trà, chủ nhà thường rót chén rượu trắng mời. Họ uống hàng ngày nhưng không đến mức say xỉn rượt đuổi đánh vợ con hay gây mất an ninh trật tự nghiêm trọng. Trong văn hoá ẩm thực, người Sán Chỉ cũng đơn giản, ít ăn mặn, cơ bản là các món luộc, rán, xào nên chị cũng dễ thích nghi.

Điều kiện sống ở Đại Dực những năm trước rất khó khăn nên đã có lúc chị Quyên muốn bàn với chồng về quê Nam Định nhưng những đứa trẻ ngây thơ đã níu chân chị lại, quyết tâm gắn bó với quê chồng. Giờ lương giáo viên của chị mỗi tháng được hơn 6 triệu đồng. Anh Hồ có nghề sửa xe máy, ngày mùa sửa thêm máy cày. Chị Quyên tự hào khoe, những khi nhà có khách toàn chồng vào bếp nấu nướng. Tối tối, anh Hồ dạy bảo con cái học bài, không khí gia đình lúc nào cũng vui vẻ, ấm cúng. Hàng năm, cả gia đình đều về quê Nam Định 1-2 lần. Những dịp quê vợ có việc, chị Quyên bận thì mình anh Hồ đưa các con về.

Cũng ở thôn Khe Lục với gia đình chị Quyên còn có các cặp vợ Kinh- chồng Sán Chỉ gồm: Lỷ A Bốn (1970)- Nguyễn Thị Dần (1970), Nình A Sằn (1949)- Nguyễn Thị Thơ (1960), Nình A Tềnh (1965)- Nguyễn Thị Tuất (1960), Chằng A Chạu (1965)- Nguyễn Thị Dậu (1967). Họ đều chăm chỉ làm ăn, không có hộ nào là hộ nghèo. Họ đến với nhau tất cả đều qua con đường mai mối của người quen.

Giàu, nghèo cũng một tấm chồng…

Từ Đại Dực đi sang xã Đại Thành qua con đường Đại Phong dài khoảng 25km lúc lên dốc, lúc xuống đèo, uốn lượn, bù lại phong cảnh thật đẹp, rất hợp với những ai thích “phượt”.

Chủ tịch UBND xã Đại Thành Lê Xuân Khuyến niềm nở tiếp tôi. Anh cho biết, Đại Thành có dân số hơn 1.500 nhân khẩu thì hơn 95% là đồng bào Sán Chỉ. Xã có hai phụ nữ người Kinh lấy chồng người Sán Chỉ, đó là bà Trần Thị Thuý và bà Nguyễn Thị N (xin được giấu tên).

Trưởng Công an xã Hoàng Văn Toàn dẫn tôi đến thăm nhà bà Thuý ở thôn Khe Lặc, cách trụ sở xã khoảng 1km. Căn nhà nhỏ đơn sơ nằm chênh vênh bên sườn đồi. Bà Thuý ở với con trai út nhưng đáng tiếc, khi tôi đến không gặp được vì bà đang cùng vợ chồng con trai đi đào dong riềng trong khe núi.

Căn nhà của bà Trần Thị Thuý đang sống cùng con trai.
Căn nhà của bà Trần Thị Thuý đang sống cùng con trai.

Anh Toàn cho biết, bà Thuý sinh năm 1954, quê ở xã Hưng Nhân, huyện Vĩnh Bảo (TP Hải Phòng). Chồng bà Thuý là ông Sằn A Sốc (sinh năm 1942, đã mất năm 2010). Hai ông bà sinh được 2 con trai. Bà Thuý giờ đang sống với vợ chồng con trai út là anh Sằn A Sặng (1989). Ông Sốc khi còn sống bị mù hai mắt bẩm sinh nhưng rất khéo đan lát. Bà Thuý khi lấy ông Sốc có đem theo 1 cô con gái với chồng trước (hiện chị này lấy chồng, sinh sống ở thôn bên cạnh).

Anh Nình A Mả- hàng xóm nhà bà Thuý đang đào dong riềng ở vạt đồi bên cạnh cho biết, do sống ở đây lâu năm nên bà Thuý đã hoà nhập với cộng đồng địa phương, từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày đến giao tiếp, chẳng khác gì người Sán Chỉ. Trước đây, bà sống mãi trong khe núi, năm trước mới chuyển ra đây. Tính bà hiền lành nên trong bản ai cũng quý.

Người còn lại ở xã Đại Thành lấy chồng Sán Chỉ là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960. Bà N quê ở xã Nghĩa Thành, huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), hiện ở thôn Đoàn Kết. Chồng bà N là ông Lý A Vùng cũng bị mù hai mắt bẩm sinh. Cô con gái lớn lấy chồng bên Đại Dực, con trai lớn lấy vợ sống ở xã Đông Ngũ, bà N hiện ở với cậu con út.

 Bà Nguyễn Thị N cho gia cầm ăn khi vừa đi rừng về
Bà Nguyễn Thị N cho gia cầm ăn khi vừa đi rừng về

Khi tôi đến nhà cũng là lúc bà N vừa đi rừng chặt tre về. Lấy chồng, định cư tại đây từ năm 1985, dù dáng vẻ, ăn mặc, nói với con trai toàn tiếng Sán Chỉ nhưng khi nói chuyện với tôi bằng tiếng phổ thông, chất giọng Nam Định của bà N vẫn không lẫn được.

Anh Toàn bật mí, bà N là người khá ghê gớm, ngay cả chồng con cũng ngại. Xã đã mấy lần phải xuống giải quyết chuyện cãi nhau của bà với các thành viên gia đình. Bởi vậy, tôi cũng không hỏi được nhiều về cuộc sống của bà N.

Tôi chia tay Đại Thành khi chiều đã muộn. Sương chiều bảng lảng như mây khói. Chợt nhớ đến câu nói của ông Lỷ A Sáng ban sáng: Ngày xưa khổ, người ta mới lấy chồng ra đây. Giờ không ai lấy chồng Sán Chỉ nữa đâu. Bằng chứng là gần 20 năm trở lại đây không có một đám nào nữa.

Một nhận xét của Phó Bí thư Đảng uỷ Nình Văn Cao đáng chú ý, đó là dù cuộc sống có vất vả, dù khi đến với nhau có người đã qua một lần đò, có người chồng khuyết tật, chênh tuổi nhưng tất cả những cặp vợ Kinh- chồng Sán Chỉ ấy tới nay vẫn gắn bó, không có đôi nào chia tay. Phải chăng những người phụ nữ ấy đã nhẫn nhịu hay đã chủ động hoà nhập vào cộng đồng người Sán Chỉ, trở thành “thiểu số hoá”?

Trần Minh

.
.
.
.
.
.
.
.