Ước vọng Đồng Văn

Chủ Nhật, 19/03/2017, 11:57 [GMT+7]
.
.

Đồng Văn là xã thuộc huyện Bình Liêu, giáp biên giới với Trung Quốc. Dễ cũng lâu rồi tôi mới có dịp trở lại nơi này nhưng có lẽ cũng vì thế mà tôi cảm nhận rõ hơn về những đổi thay ở xã biên giới này.

Bữa cơm trưa của học sinh Trường Tiểu học Đồng Văn.
Bữa cơm trưa của học sinh Trường Tiểu học Đồng Văn.

Xa con ma, gần bác sĩ

Từ cửa khẩu Hoành Mô đến Đồng Văn đổ bê tông, xe chạy một loáng đã đến nơi. Anh bạn đồng nghiệp của tôi nhắc rằng lúc về nhớ đi chậm thôi để kịp chụp ảnh bà con đang cân bán hồi bên đường. Lại nhớ, trước đây tôi đến Đồng Văn, nghe bà con bảo rằng đoạn gập ghềnh sỏi đá này là con đường “đau khổ”, đã cản trở những xe hàng xuống chợ. Nay nhờ có đường đẹp, bà con buôn bán dễ dàng hơn.

Anh Dường A Tài, Trưởng bản Phạt Chỉ, hồ hởi ra đón chúng tôi. Tôi thấy lạ, sao A Tài lại không mang rượu ra mời khách như mọi khi mà pha ấm trà ngon để giữa bàn? Để kiểm tra suy nghĩ của mình, tôi hỏi A Tài nhà anh có nhiều rượu không, A Tài đáp có mấy bình ngâm sáp ong. Nói rồi, anh ngập ngừng bảo: “Muốn mời lắm nhưng cán bộ bảo bớt uống rượu đi để làm ăn. Đừng cho cái nghèo như con ma nó đeo bám nữa. Với lại các cán bộ đang đi làm việc buổi sáng mà. Chẳng phải cấm cán bộ uống rượu trong giờ làm việc đó sao?”.

Nghe vậy, ai cũng tâm phục cái lý mà A Tài đưa ra. Nói rồi, anh dẫn chúng tôi ra xem căn nhà cũ mà gia đình mình đã ở mấy chục năm qua. Kế đó một căn nhà khang trang hai tầng đã được dựng lên, sắp khánh thành. Với Trưởng bản Dường A Tài thì căn nhà trình tường kia đã lùi vào hoài niệm, cái hoài niệm buồn về thời nghèo khó, lạc hậu, ngập chìm với ma men.

Muốn biết bà con còn uống nhiều rượu không cứ vào Trạm Y tế xã Đồng Văn là rõ nhất. Bác sĩ Vi Văn Nồng, Trạm trưởng là người dân tộc Tày bảo ở Đồng Văn này những vụ đánh nhau hay tai nạn giao thông do rượu giờ gần như đã không còn nữa. Chị Ngô Thị Lý, y sĩ của Trạm cũng đồng thuận: “Đúng là bà con đã ít uống rượu. Chúng em ở đây giờ hoạ hiếm mới có mấy người trầy xước đến xin khám và cấp thuốc. Chủ yếu bà con bị bệnh liên quan đến hô hấp vì Đồng Văn địa hình cao, sương mù, độ ẩm lớn”. Rồi chị Lý bảo rất mừng vì bà con đã quan tâm hơn đến sức khoẻ của mình. Họ biết không có con ma rừng, chỉ có con ma men làm tổn hại sức khỏe. Giờ ốm đau một cái là ra Trạm chứ không tìm thầy mo cúng đuổi ma như xưa nữa. Theo thống kê, trong năm 2016, có gần 3.000 lượt người dân trong xã được khám chữa bệnh, không có trường hợp nào bị ngộ độc rượu.

Bà Mai (ngoài cùng, bên phải) trò chuyện với cán bộ biên phòng.
Bà Mai (ngoài cùng, bên phải) trò chuyện với cán bộ biên phòng.

Đem chuyện này kể với một đồng nghiệp làm phóng viên Trung tâm Truyền thông - Văn hoá huyện Bình Liêu, chị cười bảo rằng, trước đây, mỗi lần viết cái gì về hủ tục lạc hậu của đồng bào là thường nghĩ đến Phạt Chỉ, Phai Lầu hay mấy bản xa của Đồng Văn. Giờ thì làng bản đã đổi mới, bà con đã tiến bộ lắm, chị không còn “đất” tác nghiệp nữa rồi.

Tìm hướng đi cho đồng văn

Với lợi thế lâm nghiệp, xã Đồng Văn đẩy mạnh giao đất, giao rừng, hỗ trợ cây giống tạo ra “chiếc cần câu” cho bà con. Xã triển khai dự án hỗ trợ 6 mô hình nuôi bò giống với 180 con, nuôi dê với 30 con cho 30 hộ nghèo. Ở Phạt Chỉ, bà con được bộ đội biên phòng hướng dẫn làm chuồng trại xa nhà ở để đảm bảo vệ sinh môi trường, tập huấn kỹ thuật chăn nuôi. Còn ở bản Nà Sa, lại có những mô hình trồng cây ăn quả đem lại thu nhập đáng kể như hộ anh Hoàng Thiêm Hưởng, trồng hơn 200 gốc cam, nuôi trâu, lợn rừng, gà vịt. Xã đã phối hợp với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Liêu và Công ty CP Thông Quảng Ninh hỗ trợ giống thông mã vĩ cho 44 hộ với tổng diện tích 25ha.

Đến Đồng Văn dịp này, tôi đi trong ngút ngàn rừng quế, hồi, sở, keo ở các bản Cầm Hắc, Phai Lầu, Đồng Thắng. Tại điểm thông quan Đồng Văn hay trên các cung đường tôi qua, thỉnh thoảng lại gặp điểm thu mua, bán hàng nông, lâm thổ sản, hồi, quế. Dưới chợ Đồng Văn, hồi đã được gom vào các bao dứa chất lên xe tải chuẩn bị chuyển đi.

Gặp tôi, bà Dường Tài Mai, ở bản Phai Lầu, đang ngồi thêu bên đường lúc chăn trâu khoe rằng, nhà bà đã đủ ăn, thóc, lúa, ngô, khoai đầy bồ. Nhìn rộng ra cả xã, năm 2016 đã gieo trồng trên 355ha cây lương thực đạt sản lượng hơn 900 tấn. Đấy là còn chưa kể hơn 151ha cây rau màu thu hoạch hàng trăm tấn mỗi năm.

Nhờ chịu khó làm ăn, bà con Đồng Văn đã bớt khó khăn hơn trước. Có hộ còn xây được nhà mái bằng như anh Hoàng Thiêm Hưởng và anh Dường A Tài. Bà con cũng có điều kiện hơn để làm đường theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm. Cùng với đường liên xã, hàng loạt các đường liên thôn, nội thôn cũng được bê tông hoá. Mới đây, xã đã làm được đường vào bản Sông Moóc A, đường nội thôn Đồng Thắng, Khe Mọi, Khe Tiền. Xã cũng đang triển khai thi công các tuyến đường lên bản Cẩm Hắc, đường lên nghĩa trang Phai Lầu .v.v..

Nhân dân Đồng Văn vì cái lợi lâu dài cho con cháu đã hăng hái hiến đất làm đường được trên 7.000m2, tham gia cùng Lâm trường 155 san gạt lề đường Sông Móoc với 750 công lao động. Có đường là có đầu ra cho nông, lâm sản, có đầu ra thì sản xuất sẽ phát triển, mà sản xuất phát triển rồi sẽ có nông thôn mới. Tính đến hết năm 2016, xã Đồng Văn đã đạt được 9/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Đồng Văn cũng đã triển khai chương trình cung cấp nước sinh hoạt phân tán cho 107 hộ nghèo, cận nghèo, giải phóng mặt bằng để thi công các công trình nước sạch tập trung tại các bản Sông Móoc A, Sông Móoc B. Bà con trong xã cũng đã nhiệt tình tham gia dọn vệ sinh môi trường được hơn 1.200 ngày công. Năm 2016, toàn xã có 504 hộ đạt gia đình văn hóa; các bản Cẩm Hắc, Đồng Thắng, Phai Lầu 5 năm liền đạt thôn văn hóa.

Chị Đặng Thị Kim, thương lái từ nơi xa lên thôn Pắc Pộc thu mua hồi của đồng bào.
Chị Đặng Thị Kim, thương lái từ nơi xa lên thôn Pắc Pộc thu mua hồi của đồng bào.

Tôi còn nhìn thấy tương lai trong ánh mắt em thơ ở Trường Tiểu học Đồng Văn. Đến thăm các em đúng giờ ăn trưa, mừng vì thấy câu chuyện “bữa cơm có thịt” đã thành hiện thực. Dãy nhà bán trú cho học sinh lớp 5 khang trang hơn, chăn chiếu đầy đủ làm các em ấm hơn. Trong số 9 bản làng của xã, thì đến 7 bản đều xa trường, có bản cách đến 12 cây số.

Còn nhớ cách đây mấy năm, tôi đến Đồng Văn gặp học sinh mang đèn pin đi học. Các em đi học từ mờ sáng, soi đèn để băng rừng. Lúc trở về nhà, đến nửa đường đã tối sẽ có cái để các em soi. Thầy giáo Tô Đình Hiệu, lúc đó là Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Đồng Văn, than phiền: “Cứ sau 3 tháng hè là sĩ số mỗi lớp lại hao đi một ít. Thầy, cô giáo đến tận nhà vận động học sinh đi học đừng bỏ lớp bỏ trường khi mà đường sá cách trở, ngôn ngữ bất đồng là việc rất khó ở Đồng Văn”. Bây giờ, mọi chuyện đã rất khác. Học sinh Đồng Văn đã đi học đều hơn, hiếm khi bỏ học. Trường Mầm non Đồng Văn hiện lớp nhà trẻ có 25 cháu, lớp mẫu giáo có 192 cháu. Trường Tiểu học Đồng Văn đông hơn với 25 lớp, 195 học sinh. Trường Tiểu học Đồng Văn đã được công nhận là trường chuẩn quốc gia cấp độ 1. Học sinh lớp 4, lớp 5 đã về học tại trường chính không học ở điểm lẻ nữa. Trường PTDT Bán trú THCS xã có 7 lớp với 193 học sinh. Xã cũng mở 3 lớp xóa mù chữ tại bản Phạt Chỉ, Phai Lầu và Cẩm Hắc với 64 học viên.

Lang thang ở Đồng Văn, tôi cứ ngỡ mình là du khách đang đi “phượt”. Với những người như bà Mai, du lịch cộng đồng còn là cái gì xa vời lắm, nhưng với những học sinh Đồng Văn tôi gặp thì nó chỉ là câu chuyện của nay mai thôi. Tôi tin vào điều đó khi nhìn từng ánh mắt em thơ. Rồi đây những bạn nhỏ này sẽ là người quảng bá cho quê hương, là hướng dẫn viên du lịch. Đồng Văn có đủ tiềm năng để phát triển du lịch khi mà có phong cảnh hữu tình, đồng bào dân tộc Dao Thanh Phán còn giữ nguyên nhiều nét văn hóa độc đáo, có đường biên cột mốc, chợ phiên .v.v.. Đặc biệt nhất, Đồng Văn có Ngày hội Kiêng gió của đồng bào Dao Thanh Phán (mùng 4-4 âm lịch) là một trong các hoạt động văn hoá lớn của huyện. Năm ngoái cả 9 thôn bản đều tham gia ngày hội với nhiều nội dung như hát then, hát pả dung, thi thêu hoa trên vạt áo, nghi lễ cấp sắc, nghi lễ đám cưới. Ngày hội đã thu hút hơn 4.000 người tham gia không chỉ của nhân dân trong vùng, mà còn của du khách nơi xa. Đồng Văn có nhiều thứ có thể bán cho khách làm quà mang về xuôi như: Hồi, quế, sở, thổ cẩm, men rượu lá truyền thống, lá thơm làm nước tắm.v.v.. Nắm bắt được nhu cầu thưởng thức dân ca dân vũ của du khách, xã đã thành lập câu lạc bộ hát then, hát pả dung, mở một lớp dạy hát dân ca.

Tạm biệt tiếng nước của những dòng thác Sông Moóc và thác Khe Tiền, tôi trở về trên con đường qua Hoành Mô. Tôi thầm mong với việc Hoành Mô thành cửa khẩu quốc gia và Khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn phát triển, rồi mai đây, hoạt động biên mậu sẽ sầm uất hơn, du khách sẽ đến thăm cột mốc, đến Khe Tiền, Sông Móoc, với Ngày hội Kiêng gió sẽ đông hơn. Mong ngày mới tôi quay lại Đồng Văn sẽ còn vui hơn bây giờ.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.