Làm giàu từ nghề nuôi ong ở Chân Đèo

Chủ Nhật, 11/12/2016, 10:34 [GMT+7]
.
.

Ông Tạ Văn Khì, sinh năm 1951 - tuổi Tân Mão, cầm tinh con mèo. Ông nói vui, mèo chăm chỉ bắt chuột quanh nhà, còn ông, ông cùng cả gia đình từ Thanh Miện (Hải Dương) ra Thống Nhất (Hoành Bồ) làm kinh tế mới. Ở thôn Chân Đèo, hỏi ai làm giàu từ nghề nuôi ong lấy mật thì người ta sẽ chỉ ngay đến nhà ông.

Ông Khì chăm sóc đàn ong.
Ông Khì chăm sóc đàn ong.

Nuôi ong như chăm con mọn

Tôi vào nhà thấy ông đang ở vườn ong, tay cầm chiếc gậy dài đầu gậy buộc một cái vỉ. Đó là đồ nghề để ông tiêu diệt mấy con ong lạ đang lăm le tấn công ong nhà. Tôi hỏi ông Khì tại sao lại nuôi ong ở đây chứ không phải nơi khác. Ông hồ hởi chỉ tay bảo: “Thì chú mày nhìn xem: Trên kia là rừng, dưới này là bãi sú”.

Quả thật như vậy. Thống Nhất là xã miền núi có “vành đai xanh” trên 3.000ha rừng tự nhiên và khoảng 160ha rừng trồng. Địa hình xã lại nằm gọn trong khu di tích núi Mằn đa dạng các loài thực vật quanh năm xanh tốt, hoa rừng phong phú. Chưa hết, trước mặt xã có hàng trăm héc ta rừng ngập mặn kéo dài từ thôn Chân Đèo tới thôn Xích Thổ. Thống Nhất còn gần khu bảo tồn sinh thái Đồng Sơn - Kỳ Thượng với 150km rừng nguyên sinh. Vào đây làm kinh tế, với con mắt nhà nông, ông Khì nhận ra ngay những điều vừa kể thuận lợi để phát triển nghề nuôi ong lấy mật. Một điều thuận lợi nữa đối với ông là nghề nuôi ong lấy mật ở xã Thống Nhất từ lâu đã là nghề truyền thống của người dân địa phương.

Ông Khì kể, năm 16 tuổi, ông đến vùng này thấy bà con đã nuôi ong. Thỉnh thoảng, ông vẫn gặp một số bà con người Hoa vào rừng lấy mật ong về bán nhưng đa số bà con vẫn nuôi ong nhỏ lẻ, giống tự nhiên lấy được từ rừng. Ban đầu, ông Khì cũng nuôi như vậy. Trong nhà chỉ có vài tổ để lấy mật uống hàng ngày, cho người già và con trẻ. Thế rồi, ông thấy có khách đến hỏi mua. Người hỏi mua mật, người thì hỏi mua ong giống. Ông trăn trở tìm cách nhân rộng đàn ong ra để làm kinh tế. Nuôi ong đầu tư ít, chi phí chăm sóc cũng không nhiều, hiệu quả kinh tế lại cao nên ông tập trung vào hướng đi này.

Từ năm 2005, ông Khì mở rộng quy mô đàn ong. Ông đóng những chiếc thùng gỗ hình chữ nhật dài 30cm, cao 20-25cm. Mỗi thùng ong được bố trí từ 4-5 cầu cho ong làm tổ. Các thùng ong được đặt ở chỗ thoáng mát vừa gần gũi với thiên nhiên lại gần nhà ở để chăm nom. Ông chỉ tay khoe hơn 6.000m2 đất vườn của mình, mùa nào thức ấy, trong vườn lúc nào cũng có hoa cho ong hút mật. Ông Khì bảo, loài ong siêng năng lắm, chúng không ăn quẩn quanh đâu mà bay mãi lên rừng kia. Để có được một lít mật bán cho khách, ông nhẩm tính phải mất đến hàng nghìn chuyến ong bay.

Nhẹ nhàng nâng một cầu ong trong tổ lên, ông bảo phải “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” vậy mới được. Nuôi ong phải yêu ong như con, mà phải là con mọn ấy để mà chăm sóc. Con ong nó ốm đau thế nào mình phải biết cho nó dùng thuốc gì. Trời rét đậm, rét hại phải chèn xốp vào tổ và cho ăn bổ sung khẩu phần thế nào. Để ong ăn nhiều thì bội thực đi ngoài, để ong đói thì chúng bỏ đi.

Nhiều người bảo tên ông cha mẹ đặt cho vận vào đời ông nên lúc nào cũng thấy ông cười vui vẻ. Ông Khì gạt đi bảo chưa hẳn đã đúng. Ông chỉ vui chỉ cười khi đàn ong mạnh khoẻ đi kiếm hút mật. Ông buồn khi ong ốm. Ông day dứt băn khoăn như người có lỗi gì khi ong tách đàn bỏ đi. Thậm chí ông phải thuộc chu trình sinh trưởng, sinh sản của con ong như trong lòng bàn tay. Ông bảo: “Không thế thì mất ong chúa như chơi. Ong chúa vào mùa sinh sản sẽ bay lên giao phối, mình mà không trông là chim nó xơi ngay”. Ông Khì nói vanh vách từng chi tiết vừa như một kỹ sư chăn nuôi lại giống một bác sĩ thú y.

Vợ chồng ông Khì chuẩn bị mật bán cho khách.
Vợ chồng ông Khì chuẩn bị mật bán cho khách.

Thấy ông Khì say sưa trình bày kỹ thuật nuôi, tôi ngỏ lời mua một tổ. Ông Khì bảo ngay: “Nuôi ong phải có duyên, không phải cứ có đầy đủ kỹ thuật được chuyển giao là sẽ duy trì được đàn ong đâu”.

Rồi ông kể, ông bán ong giống cho khách cũng nhiều nhưng không phải cứ bán xong tay cầm mỗi tổ hơn triệu là thôi mà phải “bảo hành” nữa. Bán cho người ta mùa rét này về ong chết vừa phí của vừa mang tiếng mình. Mình cầm tiền mà áy náy lương tâm. Nuôi ong không chu đáo là ong bị bệnh mà chết. Để ong đói hoặc nuôi quá nhiều một chỗ, ong thiếu thức ăn thì ong chúa cũng tách đàn dẫn bầy ong thợ bỏ mình mà đi nơi khác.

Ông Khì còn cho biết giờ chỉ cần ngồi trong nhà ông cũng biết dấu hiệu ong tách đàn bỏ đi. Khi ấy ông tìm cách níu chân chúng. Giữ ong chúa ở lại là cả đàn ở lại. Tuy nhiên, nói là nói vậy chứ đàn ong nhà ông vẫn đông đúc thêm, chẳng nỡ bỏ đi. Không những chẳng để cho ong tách đàn đã đành mà nhập đàn cũng phải theo ý mình. Nhập đàn không khéo là ong xung đột đánh nhau ngay.

Biết ông 23 năm công tác ở xã làm công tác mặt trận, tôi đùa: “Người ông còn đoàn kết được, ong với ông đơn giản chứ khó gì”. Ông cười tươi bảo đúng là ghép ong cũng cần có kinh nghiệm. Nếu có tổ nào thưa ong quá ông sẽ mang một cầu ở tổ đông đúc sang cho nhập đàn. Việc này phải làm vào ban đêm lúc ong đi ngủ và phải hết sức nhẹ nhàng. Chỉ cần một con ong bị kẹp, bị xây xước là cả tổ sẽ náo loạn cả lên. Nếu làm thành công, sáng hôm sau những con ong thợ của những tổ khác nhau lại đoàn kết như “anh em một nhà”.

Ông Khì kể cho tôi nghe những ngày ông còn chân ướt chân ráo với nghề nuôi ong. Thỉnh thoảng, ông sơ ý làm dập một chú ong thợ là cả đàn xông vào đốt túi bụi. Hỏi ông, ong đốt có sao không, ông lắc đầu đưa cánh tay chi chít vết chấm đen cười bảo, người khác thì có thể bị sốt lên chứ ông thì miễn dịch rồi. Ong đã gắn bó với ông như máu thịt. Thậm chí đến nọc ong đốt cũng quen với ông.

Nhờ nuôi ong mà vợ chồng ông Khì có được một căn nhà khang trang.
Nhờ nuôi ong mà vợ chồng ông Khì có được một căn nhà khang trang.

Lộc trời ban cho một vùng đất

Tiếp tục câu chuyện nuôi ong, ông Khì dẫn tôi vào nhà nhấm nháp tách trà mà bà Gái - vợ ông vừa pha sẵn. Tôi trầm trồ khen căn nhà đẹp. Cửa chính, cửa sổ toàn gỗ lim. Đồ trong nhà cũng toàn là gỗ. Hỏi ông bao nhiêu tiền thì xây được căn nhà này, ông khiêm tốn bảo ít thôi độ dăm ba trăm triệu. Tôi thì tin rằng phải có ngót tỷ bạc mới xây được một căn nhà đẹp đến vậy. Ông Khì cho biết, tất cả đều do ong mà ra. Trung bình mỗi cầu, ông thu 6-7 lít mật/năm. Mỗi tổ chừng 5 cầu, ông Khì thu 30 lít mật. Giá bán mỗi lít vào thời điểm này khoảng 250.000 đồng. Thời điểm này nhà ông Khì còn ít ong nhất cũng phải có 30 tổ.

Mật ong Thống Nhất có tiếng là thơm ngon bổ dưỡng, đặc sánh, tinh khiết không đông đặc dù để lâu nên bán rất chạy. Có thời điểm khách mua đông, ông Khì cũng như nhiều hộ ở Chân Đèo không còn mật để bán. Ông Khì dẫn tôi vào góc nhà khoe mới sắm máy quay mật mấy triệu bạc. Gần đó có 2 thùng to đựng mật ong đã quay từ đầu năm nay. Ông bảo đầy 2 thùng này phải vài trăm lít nhưng đã vơi lắm rồi. Hàng năm, ông lấy mật vào độ tháng 3 để bán dần cho khách trong cả năm.

Ong là thứ lộc trời ban cho ông và nhiều hộ dân ở Thống Nhất này. Ông Khì cho biết chỉ riêng ở Chân Đèo bây giờ còn khoảng hơn chục hộ nuôi ong. Mỗi hộ nuôi khoảng trên dưới chục tổ. Ước tính toàn xã có khoảng gần 1.000 đàn ong. Đã có 18 hộ góp vốn gia nhập HTX Mật ong Thống Nhất. HTX đã đầu tư dây chuyền công nghệ khép kín, lọc tạp chất, tách lọc mật, đóng chai, nhãn mác đăng ký mã số.

Nhận thấy việc nuôi ong lấy giống từ tự nhiên sẽ không bền vững, từ năm 2013, huyện Hoành Bồ đã đưa giống ong từ Viện Chăn nuôi Quốc gia về cho bà con nông dân. Đây là giống ong nội dễ nuôi, đã được thuần hoá, cho sản lượng và chất lượng mật tốt. Xã còn thực hiện quy hoạch chi tiết vùng nuôi ong giai đoạn 2013-2020 nhằm xây dựng mô hình nuôi ong mật tập trung ở 5 thôn: Đất Đỏ, Làng, Đình, Xích Thổ và Chân Đèo với quy mô 1.500 đàn ong trên diện tích 33,29ha. Năm 2014, mật ong Thống Nhất được đưa vào sản phẩm Chương trình OCOP. Ông Khì bảo, nghe những thông tin đó ông mừng lắm, hy vọng rằng nghề nuôi ong sẽ phát triển mạnh hơn trong tương lai.

Tuy nhiên, để đi đến đích, những hộ nuôi ong ở Hoành Bồ đang phải giải quyết nhiều khó khăn như: Những bãi sú vẹt tự nhiên bị lấn biển, san lấp đổ nền để xây dựng các công trình, thức ăn cho đàn ong không còn phong phú, tổ chức quản lý vùng nuôi các hộ nuôi cho hợp lý v.v.. Nhưng với tình yêu nghề sâu nặng, ông Khì vẫn quyết tâm giữ cho bằng được những con ong ở lại với mình. Ông không thể hình dung được nếu một ngày mở mắt ra mà không nhìn thấy ong bay, không nghe tiếng vo ve của chúng.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.