Mong ước khoảng trời riêng không mưa

Thứ Năm, 20/10/2016, 09:24 [GMT+7]
.
.

Ngày 12-11-2016 là kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống công nhân Vùng Mỏ - Truyền thống Ngành Than.

Mốc bắt đầu tính từ cuộc đình công thắng lợi đòi tăng lương, giảm giờ làm và một số điều kiện cải thiện đời sống người thợ với chủ mỏ lúc bấy giờ là thực dân Pháp vào năm 1936.

Ngày 12-11-1936, hơn 10 nghìn công nhân mỏ than Cẩm Phả đã giành được thắng lợi sau một tuần bãi công, đấu tranh buộc chủ mỏ phải tǎng lương, giảm giờ làm…

Đường lò chật hẹp.
Đường lò chật hẹp.

Mình làm báo, nên có nhiều lần đến với những người thợ mỏ. Nay lục lại tài liệu, mọi ký ức hiện về, tưởng như đang gặp lại họ chính những thời gian ấy. Rồi mình viết. Mời bạn cùng “Du lịch” với mình.

Mở đầu câu chuyện, anh – Giám đốc Xí nghiệp Than Cao Thắng - nói với mình, công việc làm ăn của các anh không có gì nổi bật, không có gì để viết, cứ đến chơi với nhau là được rồi.

Nhưng mình bảo, lâu rồi bạn đọc của báo Quảng Ninh cũng muốn biết về công việc của các anh, chuyện làm ăn của các anh...

Anh bảo, cái đó thì tùy nhà báo thôi, nếu cứ muốn.

Rồi anh nói như buột miệng: Hôm rồi đọc được trên Báo các anh bài thơ “Một khoảng trời riêng”, thấy ông nhà thơ rành chuyện người làm than quá!

“Đúng là khó có được khoảng trời riêng. Nhưng nếu có được thì nghề làm lò của chúng tôi đỡ vất vả đi bao nhiêu. Mưa. Lò sũng nước. Thợ lò quá vất...”.

Than khô trộn lẫn với than bùn cũng trở nên nhão nhoét.jpg
Than khô trộn lẫn với than bùn cũng trở nên nhão nhoét.

Mình về nhà lần giở lại tờ báo Quảng Ninh cuối tuần đã đăng bài thơ trên, đọc lại bài thơ để ngấm câu nói của anh, cũng là để ngấm thêm chuyến chui lò của mình ở đơn vị anh hôm ấy.

Bài thơ đó nguyên văn như sau:

Một khoảng trời riêng

Mùa hè mưa bất chợt ngày đêm

Mưa xé nát từng tàu lá chuối

Thợ mỏ thấy lòng mình đau nhói

Những bãi than đầy có thể bị trôi

Mưa liên miên phủ kín bầu trời

Cánh đồng lúa gặp mưa xanh thêm lá

Tôm cá trong đầm, dưới ao, ngoài biển cả

Đón giọt mưa trời vui nhảy tung tăng

Ai biết chăng người thợ làm than

Khi thấy mưa lòng bao trăn trở

Nghĩ tới bờ moong than sạt lở

Nước ngập mất than đất đá lấp tràn

Nên ước chi mình có một khoảng trời riêng!

Hoàng Tháp

Tác giả bài thơ đã từng đi lò, công tác tại Công ty Than Vàng Danh.

Khao than.
Khao than.

Mình nhớ, chui lò hôm ấy ở Công trường Cái Đá của Xí nghiệp cùng với Phó Giám đốc phụ trách kỹ thuật Trần Hữu Thắng và Quản đốc Công trường Trần Minh Tiến.

Quản đốc Tiến báo rằng, lò hiện đang giải quyết nước do mưa nên rất ướt.

“Trận mưa hôm cuối tháng, mưa lớn, suốt từ 8 giờ tối đến 8 giờ sáng, sau lâm râm đến tận chiều, chúng tôi phải bơm nước hết cả tuần mới lại làm ăn được”.

“Đến trận mưa này, tuy nhỏ hơn, mưa chừng khoảng ba tiếng, chúng tôi đã bơm liên tục hai ngày rồi. Sáng nay mới bắt đầu tạm nhúc nhắc khai thác được. – Anh Tiến nói – Hay là anh chui một đoạn lò thôi? Đến tận nơi khai thác sợ anh vất vả?”.

Mình bảo, đã đi thì đi đến tận cùng. Các anh vất vả nhiều, không nên lo cho mình.

Chúng mình bắt đầu chui lò.

Lò tối, dốc, lép nhép, trơn trượt rất khó đi.

Có chỗ nền lò phải rải lưới B40 để chống trơn.

Xuống đến đường lò bằng, nền lò lõng bõng bùn nước, bắt đèn loang loáng như mặt ruộng, lội ngập đến quá cổ ủng. Anh Tiến nói, thế là bùn nước đã rút đi nhiều.

Đường lò Cao Thắng sũng nước mùa mưa.
Đường lò Cao Thắng sũng nước mùa mưa.

Chúng mình cứ lội bì bõm như thế. Lạ lò, lại nhiều bùn, nước, mình vừa đi vừa dò dẫm, khó quan sát được nhiều xung quanh.

Bỗng đèn bắt gặp cái gì như cửa chắn nước mình đã gặp ở cửa cống trên bờ nào đó.

Anh Thắng bảo, đúng là cái cửa chắn nước.

Mưa lớn, bùn nước tràn về đường lò này, nơi có các hầm bơm.

Nhưng bùn nước tràn về nhiều quá, dồn tất cả xuống hầm bơm một lúc, sẽ làm ngập máy bơm, gây chết bơm. Mà chết bơm thì coi như “Thôi rồi Lượm ơi!”.

“Chúng tôi phải làm hai cửa ngăn, ngăn cả một khoảng đường lò, trong đó không chỉ có các hầm bơm mà còn có trạm cung cấp dịch, hệ thống quang lật, đầu băng tải... Khi bùn nước dồn về nhiều thì dùng những tấm gỗ chèn khít lại, sau đó dùng các bao tải đất đã để sẵn như thế kia chặn tiếp bên ngoài.

Mục đích là để bùn, nước vẫn giữ lưu lượng vừa phải tràn đến hầm bơm để bơm không bị ngập. Bùn nước bị chặn lại ngoài này có lúc ngập đến ngang thắt lưng...”.

Cuối cùng chúng mình đến được lò chợ ở mức -31 (tức lò chợ ở sâu dưới lòng đất 31m), nơi thợ lò đang làm việc.

Lại nói lúc đi xuống, mới rời cửa lò vào sâu được vài chục mét thì nghe thấy một tiếng mìn nổ. Anh Thắng và anh Tiến bảo mình cùng dừng cả lại, vì khói sắp xộc đến đây.

Quả nhiên, không lâu ngay sau đó là khói mìn khét lẹt dày đặc ùa tới, trắng một màu, không nhìn thấy gì nữa. Nhưng cũng không lâu khói đã vượt qua chúng mình bay thốc ngược lên cửa lò.

Mình kêu “khét quá!” và sợ sặc. Anh Tiến bảo, nó tác hại thế, vậy mà lâu không được ngửi là thấy nhớ...

Hầm bơm điện trong hầm lò.
Hầm bơm điện trong hầm lò.

Trở lại đường lò mức -31. Hôm ấy có 14 thợ lò đang làm việc.

Họ đang khao than xuống máng cào.

Dùng từ “khao” (có nghĩa đào, cào, xúc, gạt…) nghe than thật khô rang và rào rào. Kỳ thực là họ đang xúc, chính xác là dùng xẻng gạt, có chỗ chẳng cần xẻng, họ dùng ủng gạt than, bởi than nhão nhoét, lõng bõng.

Đường lò chật chội, muốn đến chỗ kia không thể không bước vào máng cào.

Máng cào đang dừng, thợ lò bảo mình cứ dẫm tạm vào đó. Ủng mình lụt ngún trong bùn than chỉ còn chút xíu nữa là chúng tràn được vào trong.

Mình đã có dịp chui lò ở nhiều mỏ, mình nói với anh Thắng, sao lò chợ ở đây có vẻ xiên xẹo và chật, không thẳng, rộng, thông thoáng như ở một số mỏ lớn.

Anh Thắng bảo, khai thác mỏ nhỏ, như tận thu, than vỉa vách nó chỉ có thế, đường lò phải đi theo than, lấy đâu mà thẳng thớm cho được.

“Lúc trước anh có hỏi chúng tôi, có dùng giá không, thì vào đây anh thấy, chỗ này còn dùng được cột thủy lực đơn là tốt lắm rồi”.

Mình hỏi anh Thắng ở trên mà như cũng đã ngầm so sánh, ngầm tự trả lời: Tất cả các công đoạn khai thác, mỏ lớn, mỏ nhỏ chẳng khác nhau là mấy, nhưng khai thác than nơi mỏ nhỏ vất vả hơn nhiều so với mỏ lớn.

“Trước mức -31, chúng tôi lấy ở mức -25, trước nữa là mức -20... – Anh Tiến dường như đang trong mạch về lò bễ ẩm ướt, nói - Các lớp than cách nhau không xa nên nước xuống nhiều. Lò không khi nào khô ráo. Than có khô, cào ra trộn lẫn nhau cũng trở nên nhão”.

Cửa chắn nước.
Cửa chắn nước.

Nhìn chỗ nào cũng thấy trơn nhẫy. Nước trần lò nhỏ tong tong. Nước vách than rỉ ra chảy thành dòng róc rách.

Khổ cho cái máy ảnh của mình, hôm chui lò Thống Nhất, bụi than làm kẹt cửa mở ống kính, muốn chụp được phải lấy ngón tay khẽ cà vào đó nó mới chịu mở ra.

Nay thì chùi tay vào chỗ nào trên người cũng ướt nhẫy, không làm sao để có ngón tay khô, bấm vào nút chụp nó cứ chực trượt đi.

Mà ghi được một hình ảnh người thợ lò đang làm việc tự nhiên nơi hầm lò ướt nhèm và sung sũng nước như thế này nào đâu có dễ...

Gặp một thợ lò đang làm các công việc dịch chuyển cột, anh Thắng nói: Làm cứ bình tĩnh nhé. Chú ý lắng nghe. Nếu thấy có gì là phải chạy đấy.

Gặp người thợ đang rải lưới, néo lưới, anh cũng dặn vậy.

Mình nhìn cảnh thợ lò khai thác than trong bùn nước, đường lò chật chội và xiêu vẹo, không thể không có ý nghĩ nó sẽ sập xuống bất cứ lúc nào.

Anh Tiến bảo, bùn lò chợ hôm kia ngập đến đầu gối. Lại bảo, lúc khô ráo, Công trường lấy được khoảng 350 đến 400 tấn than/ngày đêm. Nay mưa gió thế này, vừa khắc phục lò bễ sau mưa, vừa khéo lấy chỉ được non nửa...

Mình muốn kể thêm, chẳng hạn như ở Công trường khai thác than hầm lò Cái Đá cũng đã đầu tư một số hạng mục để giảm bớt công sức của người thợ.

Như sử dụng hệ thống băng tải dài 245m thay thế được hệ thống 5 máng cào; dùng khởi động mềm cho băng tải để tiết kiệm điện; dùng biến tần cho trạm bơm, cho quạt; hay đã hoàn chỉnh hệ thống tời từ 1 phanh nay chuyển sang 2 phanh v.v.

Các bao tải đất để đắp vào cửa chắn nước chống ngập cho trạm bơm.jpg
Các bao tải đất để đắp vào cửa chắn nước chống ngập cho trạm bơm.

Nhưng câu chuyện mưa và bùn, nước, lò ướt cứ cuốn đi.

Lúc lên bờ, mình đã cùng anh Thắng đi xem những chỗ mà Công trường đã đổ đất.

“Mặt bằng phía trên nơi mình khai thác, đất bị nứt nẻ, sụt lún, mình phải đổ đất vào đó, san gạt kỹ. Để chống nước mặt chảy trực tiếp xuống dưới đó. Nó muốn xuống đó phải thẩm thấu qua lớp đất mình đổ. Chúng tôi đổ đất, san gạt liên tục 3 ngày. Đất lấy ở Hà Tu, hơn ngàn khối...”.

Nhìn quần áo mình mới chui lò lên, hơi nước bốc nghi ngút trong nắng trưa.

Hình như cơn nắng này chúng gắng hực lên trong chốc lát, khiến không khí oi nồng, bởi kia, phía chân trời đang lởn vởn những đám mây thâm sì, mòng mọng nước... mình càng hiểu và thấm sâu hơn bài thơ của người thợ Hoàng Tháp.

Mình có gọi điện cho tác giả Hoàng Tháp.

Anh nói, bài thơ anh viết không chỉ là mong ước, mà còn là một vấn đề khoa học: có thể ngăn không có mưa ở một vùng đã định nào đó, chẳng hạn như ở vùng khai thác than được không?

Xin được chia sẻ gian khổ với các anh – những người thợ của Xí nghiệp Than Cao Thắng, khi lò bễ sũng nước sau mưa…

Trần Giang Nam

.
.
.
.
.
.
.
.