Năm học mới ở Đồng Văn

Chủ Nhật, 04/10/2020, 11:25 [GMT+7]
.
.

Đến trường, đi học dường như là công việc thật quen thuộc mỗi học sinh dịp đầu năm học mới. Nhưng đối với các em học sinh ở bản vùng cao biên giới Đồng Văn với 100% bà con dân tộc Dao thì việc ấy càng đáng quý hơn. Năm học mới này, thầy và trò ở Đồng Văn có nhiều điểm mới, niềm vui mới.

Niềm vui ở điểm trường biên giới 

Đầu tháng 9, nắng thu vàng như mật. Không khí trong mát ngập tràn vùng cao Bình Liêu. Chúng tôi lên Phai Lầu, một trường đặc biệt ở vùng biên giới với 100% học sinh người dân tộc và là một trong những điểm trường xa, nhất, sát biên. Từ thị trấn Bình Liêu tới Đồng Văn chừng 20km. Quãng đường đó như ngắn lại bởi không gian vang lên tiếng học trò í ới, nô đùa hoà cùng không khí năm học mới đang rộn ràng ở xã vùng cao biên giới này.

0.jpg
Phòng học khang trang giúp cô trò điểm trường Phai Lầu dạy và học tốt hơn.

Từ Đồng Văn, hành trình lên Phai Lầu chỉ khoảng 6 - 7km lại mất thời gian hơn bởi đường đi cao, dốc và quanh co. Cảnh vật quanh đường cũng liên tục đổi thay. Xa xa, những dãy núi cao mây mờ. Qua quãng đường dài mà chỉ lác đác vài căn nhà của bà con dân tộc Dao. Càng lên cao, tôi cảm thấy trời như lạnh hơn, ù tai do thay đổi áp suất.

Chẳng mấy chốc, điểm trường Phai Lầu hiện ra trước mắt đúng giờ ra chơi của thầy trò điểm trường. Khác với hình dung, điểm trường có 4 căn phòng học nằm gọn gàng sát con đường bê tông thẳng vào bản. Dù không rộng nhưng điểm trường khá sạch đẹp, ngăn nắp, có khu vui chơi, vườn trồng rau ngay ngắn. Trường dành ra khoảng sân rộng đủ cho các em thoải mái nô đùa. Không gian và dụng cụ học tập khá đầy đủ.

Phải khó khăn lắm, tôi mới gợi chuyện được em Tằng Phúc Nỉ, học lớp 3. Gia đình Nỉ là hộ cận nghèo, bố mẹ Nỉ quanh năm vất vả với trồng cấy, thu hồi, quế. Rảnh rỗi lại đi phụ xây dựng. Nhà Nỉ cách trường khoảng 3 - 4km, ở trên vùng đồi giữa Cầm Hắc và Phai Lầu. Thời gian bố mẹ đưa Nỉ đến trường cũng không nhiều. Gặng hỏi mãi, cậu học trò đen nhẻm, gầy gò mới lí nhí bằng giọng nói tiếng phổ thông còn chưa sõi: Đến trường có nhiều bạn bè, đồ chơi, sân chơi rộng. Được đi học con thích lắm...

Cô Ngô Thị Bình, giáo viên chủ nhiệm gắn bó với nghề đã 30 năm nay chia sẻ, đón năm học mới, điểm trường cũng được quan tâm đầu tư để có diện mạo khang trang. Đặc biệt, việc vận động học sinh ra trường, việc dạy học cũng được quan tâm hơn. Để học trò tới lớp đều, trước đó 1 tuần, các cô phải đến từng nhà vận động gia đình, các em đi khai giảng, nhập học. Đồng bào dân tộc Dao ở đây có phong tục làm nhà đồi, núi cao. Nhiều cháu nhà xa, trên đồi, giáo viên đi xe máy tới nơi, để xe ở chân đồi, phải tiếp tục cuốc bộ hàng km mới tới nhà các em. Có lẽ nhờ đó mà 29 học sinh 3 lớp 1,2,3 ở điểm trường luôn đến trường đều.

à
Bữa trưa tại phòng ăn do nhà trường bố trí cho các em học sinh bán trú.

Tạm biệt những học sinh Dao, chúng tôi hành trình trở về điểm trường chính, Trường PTDT Nội trú Tiểu học và THCS Đồng Văn để tìm hiểu về mô hình bán trú, "ngôi nhà thứ 2" của học sinh điểm trường xa. Quả thật, có đi tôi mới hiểu hành trình đến lớp của học sinh miền núi. Con đường ấy thật gian nan, vất vả. Nếu dưới xuôi, học sinh được bố mẹ đưa đón từ nhà đến trường thì học sinh ở trên này lại khác.

Trời nắng việc đưa đón còn thuận lợi, nhưng chỉ trận mưa ập xuống, chặng đường băng rừng vượt suối đến trường sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Nhiều hộ gia đình còn lo cái ăn từng bữa thì hành trình cho con em mình tìm đến con chữ, sách vở thật xa xôi. Hơn nữa, cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số nhiều hộ còn khó khăn, do đó, nhiều em học lớp 4,5 đã trở thành lao động, giúp được gia đình nhiều việc. Vì thế, nhiều năm trước tình trạng học sinh bỏ học, không ra lớp khá nhiều.

Nhưng những câu chuyện ấy giờ đây đã có lời giải khi mà mô hình đưa học sinh lớp 4, 5 tại điểm trường lẻ về điểm trường chính, Trường PTDT Nội trú Tiểu học và THCS Đồng Văn được thực hiện hiệu quả.

Chúng tôi về trường đúng thời điểm học sinh tan học, chuẩn bị cho bữa ăn trưa tại trường. Các em học sinh bán trú tập trung ở nhà ăn rộng chừng 60 - 70m2, khá khang trang, bàn ghế quạt đầy đủ. Sau đó, chúng tôi trở lại thăm khu ở của học sinh bán trú. Điều tôi khá ngạc nhiên là khu ở bán trú là một dãy nhà 3 tầng khang trang rộng rãi, ngay giữa khuôn viên trường. Các phòng được bố trí đủ ánh sáng, ngăn nắp, sạch sẽ.

Vừa đưa chúng tôi đi thăm cơ sở vật chất nhà trường, thầy Trịnh Khắc Đông, Hiệu trưởng nhà trường vừa kể, có kết quả đó là một quá trình. Học trò xa nhà, thời gian đầu các cô, các thầy đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm phải theo sát, uốn nắn từng tý một, hướng dẫn nếp sống hợp vệ sinh. Ở đây ngoài giờ học chính khóa, các em học sinh sẽ ăn, ở ngay tại trường nên chế độ ăn uống sinh hoạt luôn luôn được thầy cô và nhân viên nhà trường theo sát. Hệ thống nhà ăn, phòng nghỉ thông thoáng, hợp vệ sinh.

Mỗi học sinh được ở trong phòng ở rộng rãi với hệ thống 8 giường tầng/phòng, đầy đủ chiếu chăn màn. Hiện có 22 phòng, trong đó 7 phòng cho học sinh bán trú lớp 4,5 và 15 phòng cho học sinh cấp THCS. Chế độ dinh dưỡng được theo dõi tỉ mỉ. Ở đây hầu hết đều là con em đồng bào dân tộc với điều kiện kinh tế khó khăn.

Tôi đi cùng cô giáo dạy tiếng Anh, Mạ Thanh Dung thăm phòng học trò nhỏ Tằng Thị Hồng, nhà ở bản Phai Lầu, chuyển xuống điểm trường chính. Điều chúng tôi ngạc nhiên là căn phòng rất sạch và ngăn nắp. Lúc này chị Tằng Thị Vì, học lớp 8, chị ruột của Hồng đang dạy em học. Vẫn còn vẻ nhút nhát, Hồng rụt rè kể: Ban đầu em xuống đây xa nhà cũng buồn, nhớ nhà lắm.

Nhưng đi học gần trường, điều kiện ăn tốt, không lo mưa nắng ảnh hưởng việc đến trường. Hơn nữa, các cô giáo và chị ruột thường xuyên quan tâm, bảo ban. Cuối tuần lại được cùng chị về nhà, em thấy quen và vui hơn.

Tình yêu của những người gieo chữ

Cùng đi và trò chuyện với chúng tôi hôm ấy còn có cô Phó hiệu trưởng Nguyễn Thị Hồng Hạnh. Điều tôi hơi lấy làm lạ là trên bàn làm việc của cô Hạnh, cô Dung và nhiều cô giáo khác thường trực hộp kim chỉ hay kéo. Thấy ánh mắt tò mò của chúng tôi, cô Hạnh bảo: Kim chỉ là để khâu quần áo cho các em học sinh đấy. Ở đây, phòng thầy cô nào cũng chuẩn bị kim chỉ đôi khi là cả kéo để cắt tóc cho học sinh sau là dạy các em khâu vá. Với đa phần học sinh ra lớp có độ tuổi nhỏ từ 9-14 tuổi nên thầy cô như người mẹ, người cha thứ hai. Thời gian đầu mới xuống các em chưa quen nên các cô phải quan tâm rèn nếp sống vệ sinh chung.

fafaff
Cô giáo Mạ Thanh Dung dạy may vá, thêu thùa cho các em học sinh bán trú tại trường.

Không đơn thuần chỉ gắn kết ở những giờ học trên lớp mà thầy cô còn quan tâm, sát sao đến các em trong cả cuộc sống sinh hoạt sau những giờ học chính khóa. Thầy cô như cha mẹ, nhẹ nhàng tâm sự chỉ dạy những công việc thường ngày như học tập, dọn vệ sinh... để các em vơi nỗi nhớ nhà.

Có lẽ chỉ đôi ba câu chuyện mà các thầy cô ở đây làm đơn giản chỉ vì tâm, tình đối với học sinh của mình cũng đủ minh chứng cho sự gắn bó của họ nơi vùng cao. Với thầy cô, các em học sinh không chỉ là những cô cậu học trò nhỏ. Những công việc nhỏ nhất như cắt móng tay, móng chân, chải tóc, hướng dẫn giặt quần áo, lau bàn ghế, quét nhà… đều được những thầy cô đã tận tình chỉ bảo.

Cô Hạnh kể thêm: Ban đầu học sinh ở đây có tâm lý nhớ nhà. Nhưng con em đồng bào dân tộc, từ bé tính tự lập cao, cùng với sự quan tâm chu đáo của thầy cô mà các em dần thích nghi với môi trường học tập và sinh hoạt mới. Đối với một số em nhỏ lớp 4, lớp 5 mới nhập trường nhưng các em cũng hòa nhập nhanh chóng vì được học chung trường với anh, chị ruột đang theo học lớp cao hơn tại trường.

Không chỉ được cha mẹ các em tin tưởng giao phó, chúng tôi mong trường không chỉ là là nơi gieo con chữ, gieo ước mơ mà sẽ trở thành mái nhà, nơi các em có người cha, người mẹ thứ hai luôn yêu thương và chăm lo cho học sinh dấu yêu.

f
Tằng Thị Vì (phải) tranh thủ thời gian rỗi tới thăm và kèm cho em ruột là Tằng Thị Hồng học tại điểm bán trú.

Chia sẻ với chúng tôi về mô hình này, thầy Vi Tiến Vượng, Trưởng phòng GD - ĐT huyện Bình Liêu cho biết: Trường PTDT Nội trú Tiểu học và THCS Đồng Văn là trường bán trú chuyên biệt, mới hợp nhất 2 trường tiểu học và THCS Đồng Văn. Mô hình đưa học sinh lớp 4, 5 tại điểm trường lẻ về học tập trung tại điểm trường trung tâm cũng là mô hình mới được triển khai nên thời gian đầu gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận động con em của đồng bào ra lớp.

Nhưng với quyết tâm, sự hỗ trợ của các đoàn thể và chủ động trong tuyên truyền nên các phụ huynh mới ủng hộ để các con về điểm trường chính. Điều chúng tôi đã và đang thực hiện là tiếp tục xây dựng thêm nhiều sân chơi thể thao, các CLB văn hoá dân tộc, giáo dục các em kỹ năng làm vườn, trồng cấy... vừa giáo dục kỹ năng sống, vừa tạo đời sống tinh thần phong phú. Đối với các điểm trường sâu, xa vùng biên giới như Phai Lầu, ngoài giáo viên chủ nhiệm dạy văn hoá, chúng tôi còn bố trí luân phiên các giáo viên dạy các môn: Tiếng Anh, thể dục, mỹ thuật, luân phiên tại các điểm trường để các em được học đầy đủ các môn.

Có lẽ vì thế mà ngay trong năm đầu thực hiện mô hình này đã cho thấy những kết quả tích cực. Việc huy động học sinh lớp 4, 5 các điểm trường lẻ ghép về học tại điểm trường chính vẫn đảm bảo đúng sĩ số, đúng định biên, lại tạo điều kiện học tập và sinh hoạt tốt hơn cho các em học sinh. Tỷ lệ chuyên cần của nhà trường luôn đạt 100%.

Ra về, chúng tôi thêm hiểu tâm sự, mong muốn của thầy Đông, thầy Vượng, những người gắn bó với giáo dục vùng cao. "Cách đây khoảng chục năm, trường chưa có học bán trú, số lượng học sinh ra lớp không ổn định. Những ngày trời mưa gió ở những thôn bản như Sông Mooc A, Sông Mooc B vì cách trở, nhiều sông suối, lũ dâng cao khi mưa to nên học sinh không thể đến trường. Đến nay tình trạng này chấm dứt, học sinh vui vẻ tung tăng học tập và vui chơi dưới ngôi trường tươi đẹp" - Thầy Vượng chia sẻ và đó có lẽ là niềm vui nhất đối với những "người chở đò tri thức" nơi vùng cao, biên giới.

Hà Phong

.
.
.
.
.
.
.
.