Những sự hy sinh thầm lặng

Chủ Nhật, 12/07/2020, 16:01 [GMT+7]
.
.

Có lần tôi đến tìm hiểu để viết báo về tấm gương của thương binh tiêu biểu, thì đồng chí thương binh bảo rằng: “Chúng tôi đươc ca ngợi nhiều rồi, chiến tranh đi qua đã lâu, nhiều người trong số chúng tôi do bị thương tật mà trở thành gánh nặng cho gia đình. Để chúng tôi vượt qua được những khó khăn vất vả thì công lao lớn nhất là những người vợ. Họ đã dành cả tuổi thanh xuân và cuộc đời của mình để chăm sóc chúng tôi. Họ rất xứng đáng được ca ngợi”.

Ông Nguyễn Xuân Sắc, Chủ tịch CLB Thương binh Cẩm Phả năm nay đã 78 tuổi, nhưng vẫn tận tụy với công việc chăm sóc thương binh. Ông Sắc nguyên là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Thương binh Đoàn Kết, ông đã tạo công ăn việc làm cho nhiều thương binh, bệnh binh và con em họ, nhiều người cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn. Ông Sắc bảo: “Khi đó tôi có được những thành công này, cũng nhờ có hậu phương vững chắc, vợ tôi luôn động viên tôi hoàn thành công việc”.

Thời điểm còn là lãnh đạo Công ty CP Thương binh Đoàn Kết, ông Sắc đã giúp nhiều người khuyết tật trên địa bàn thị xã, mà trong số đó nhiều người là con các thương binh và nạn nhân chất độc da cam có nghề để giúp họ ổn định phần nào cuộc sống. Năm 2007, một lớp học cắt may cho trẻ em khuyết tật gồm 40 thành viên được thành lập. Đến nay, một số học viên trong lớp học cắt may sau khi được đào tạo đã hành nghề tại nhà.

Dương Thị Hoa, ở phường Cẩm Sơn, TP Cẩm Phả bị liệt cả 2 chân, là thành viên của lớp học may, được ông Sắc đã đứng ra kêu gọi xã hội hóa xây nhà và tặng Hoa một chiếc máy khâu để cô hành nghề.
Chị Dương Thị Hoa, ở phường Cẩm Sơn (Cẩm Phả) bị liệt cả 2 chân, là thành viên của lớp học may, được ông Nguyễn Sinh Sắc (bên phải) đứng ra kêu gọi xã hội hóa xây nhà và tặng cho một chiếc máy khâu để cô hành nghề.

Từ năm 2016 đến nay, do tuổi cao, ông Sắc bàn giao Công ty CP Thương binh Đoàn Kết cho người khác và làm Chủ tịch CLB Thương binh Cẩm Phả được thành lập từ 2003, hiện có 132 hội viên. Qua nhiều năm hoạt động, dưới sự lãnh đạo của ông Sắc, nhiều hội viên không chỉ giúp mình mà còn giúp người khác. Toàn CLB không có hội viên nghèo, nhưng có tới 70% số hội viên thuộc hộ khá. Công việc làm Chủ nhiệm CLB Thương binh không mang lợi kinh tế gì cho gia đình ông Sắc, lại khá bận rộn nhưng người vợ ông bà Nguyễn Thị Lan, vẫn luôn động viên ông làm tốt công tác xã hội. Bà chăm sóc tận tình mỗi khi ông vì công việc mà về nhà muộn hay đau ốm, mệt mỏi, đảm đang mọi việc gia đình để ông có nhiều thời gian cho công việc chăm sóc thương binh, các thành viên trong CLB.

Ông Sắc bảo: “Để thực hiện tốt lời dạy của Bác “Thương binh tàn nhưng không phế” chúng tôi luôn biết ơn những người vợ. Không có họ chúng tôi khó có được những thành công”.

Đến khu 7, phường Nam Hòa (TX Quảng Yên), tôi gặp bà Nguyễn Thị Thiều là người vợ, người mẹ của những nạn nhân chất độc da cam. Tôi thấy thật cảm phục sự hy sinh của bà đã dành hầu hết thời gian cuộc đời để chăm sóc chồng, con.

Bà Thiều bảo: “Đã suốt mấy chục năm tôi chưa có một ngày ngủ ngon giấc”.

Năm nay bà đã 69 tuổi, những năm chiến tranh chống Mỹ, bà Thiều là thanh niên xung phong với công việc san lấp hố bom, mở đường cho những đoàn xe vào chiến trường. Bà bị nhiễm chất độc da cam. Trở về hậu phương, bà Thiều lấy chồng là ông Lê Văn Leo (bộ đội xuất ngũ). Cuộc đời làm vợ, làm mẹ của bà Thiều trải qua nhiều hành trình gian nan, mang thai 2 lần nhưng không sinh hạ được vì thai chết yểu. Thế rồi bà Thiều có con gái đầu lòng là Lê Thị Thúy, ngay từ khi mới sinh ra đã có biểu hiện của người không bình thường. Hai người con kế sau Thúy cũng bị nhiễm chất độc da cam, một người đã mất, còn một người tạm thời lo được cuộc sống riêng mình.

Bà Thiều thường phải ra đường tìm con gái về vì sợ con bị tai nạn giao thông
Bà Thiều (bên phải) thường phải ra đường tìm con gái về, vì sợ con bị tai nạn giao thông.

Chị Thúy, năm nay 42 tuổi, nhưng do ảnh hưởng của chất độc da cam nên răng đã rụng hết, mắt bị mù, tai điếc. Mắt không nhìn thấy gì, nhưng chị Thúy lại hay đi ra đường và nhiều lần bị tai nạn giao thông, may chỉ bị thương. Bà Thiều phải bỏ mọi công việc để ở nhà chăm sóc chị Thúy. Giờ kinh tế gia đình đều trông chờ vào Lê Văn Leo, chồng bà đã hơn 70 tuổi gánh vác.

Bà Thiều bảo: “Suốt nhiều năm, tôi chỉ ngủ được khi con gái đã ngủ, khi con gái thức, tôi cũng phải dậy theo”.

Dù con gái đã lớn, nhưng bà Thiều vẫn trông nom như trẻ nhỏ, mà còn khổ hơn, vì không để ý, chị Thúy đi xa lắm, có khi cách nhà đến vài cây số.

Dù chiến tranh đi qua đã lâu, những người lính đã tạm bình yên với những hy sinh mất mát của mình, nhưng những người vợ của họ lại tiếp tục gánh vác những vất vả đời thường, sự hy sinh của họ thật vô bờ bến.

Anh Vũ

 

 

.
.
.
.
.
.
.
.