Chuyện kể của những cựu chiến binh về đại thắng mùa xuân 1975

Chủ Nhật, 22/04/2018, 13:15 [GMT+7]
.
.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đã có hàng vạn thanh niên Quảng Ninh nhập ngũ chi viện cho các chiến trường, chiến đấu kiên cường, lập công xuất sắc. Nhiều người con ưu tú của Vùng mỏ đã đi đến ngày cuối cùng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

CCB Bùi Duy Thinh tại Sài Gòn trưa 30/4/1975.
CCB Bùi Duy Thinh tại Sài Gòn trưa 30/4/1975.

Lính Binh đoàn Than trong ngày đại thắng

Tháng 7/1967, lần đầu tiên Trung ương cho phép ngành Than và tỉnh Quảng Ninh huy động lực lượng thợ mỏ đông đảo với hơn 2.000 người chi viện cho chiến trường miền Nam. Lực lượng thợ mỏ chiến sĩ ấy vinh dự được đặt tên là Binh đoàn Than. Sau quá trình huấn luyện, chiến sĩ Binh đoàn Than nhanh chóng lên đường hành quân vào Nam kịp thời tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968. Sau khi cùng quân dân cả nước làm nên nhiều thắng lợi vào mùa xuân năm 1968, chiến sĩ Binh đoàn Than được chia ra bổ sung cho các chiến trường, góp phần đi đến thắng lợi lịch sử trong mùa xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Cựu chiến binh (CCB) Bùi Duy Thinh, hiện đang sinh sống tại phường Cao Thắng, TP Hạ Long, kể: “Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, tôi được bổ sung về Trung đoàn 28, Sư đoàn 10, Quân đoàn 3. Chúng tôi chiến đấu dọc Tây Nguyên, đến năm 1975 thì từ Buôn Mê Thuột đánh xuống Nha Trang, sau đó tiến vào Sài Gòn. Trưa ngày 30/4/1975, tôi ngồi trong xe bọc thép tiến vào Bộ Tổng tham mưu ngụy. Là chiến sĩ Binh đoàn Than có mặt trong ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi vô cùng tự hào”.

Nhớ lại những ngày hào hùng của 43 năm về trước, CCB Bùi Duy Thinh tâm sự: Vì bị thương nên tháng Giêng năm 1975, tôi được chuyển sang viết truyền thống lịch sử. Tuy nhiên, tin chiến thắng dồn dập đưa về từ các chiến trường đã khiến tôi khoác súng, bỏ cái “tổ sử vàng” tìm về đơn vị và được nhận nhiệm vụ mới, làm Trưởng ban Quân lực Trung đoàn. Không khí chuẩn bị tổng tấn công đánh vào sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn đã sục sôi lắm.

Sáng 29/4, đội hình mũi 6 chúng tôi thọc sâu hướng Tây Bắc đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Xe qua được cầu thứ nhất, đến cầu thứ hai thì… cầu sập. Một trận đánh nảy lửa trên đường phố Sài Gòn diễn ra, đồng đội tôi có người hy sinh, có người bị thương, máu loang đầy những tấm áo xanh. Chúng tôi vô cùng xúc động khi người dân Sài Gòn không quản hiểm nguy băng bó vết thương cho quân giải phóng. Điều đó càng thêm thấm thía về tình quân dân - cá nước.

CCB Nguyễn Quang Vinh bên Dinh Độc lập, ngày 30/4/1975.
CCB Nguyễn Quang Vinh bên Dinh Độc lập, ngày 30/4/1975. (Ảnh: Nhân vật cung cấp)

Phân đội Vùng mỏ anh hùng

Cuối năm 1974, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) tuyển chọn một tiểu đoàn gồm 400 quân chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, làm nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Cục và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (phiên hiệu B18). Tỉnh Quảng Ninh được giao nhiệm vụ tuyển chọn 38 chiến sĩ và 1 sĩ quan chỉ huy gọi là Phân đội Vùng mỏ. 39 người con của Quảng Ninh trong đơn vị này đã góp sức cùng quân, dân cả nước đi đến ngày toàn thắng 30/4/1975. 

Đại tá Nguyễn Quang Vinh, nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 18 (B18), hiện đang sinh sống ở phường Bạch Đằng, TP Hạ Long nhớ lại: “B18 chúng tôi vừa khẩn trương củng cố kiện toàn về tổ chức, biên chế, vừa phải tập trung huấn luyện cấp tốc rồi lên đường vào Nam”.

Đơn vị ông Vinh hành quân vào đến Tây Nguyên, tham gia giải phóng Tây Nguyên, Tiểu đoàn 18 được lệnh chốt giữ bảo vệ cầu Đức Lập, phía nam Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc cho các cánh quân của bộ đội chủ lực tiến xuống đồng bằng Trung Bộ và Nam bộ. Tiểu đoàn được lệnh chọn 30 cán bộ, chiến sĩ cải trang trà trộn vào vùng địch hậu làm nhiệm vụ binh địch vận. Sau đó, đơn vị được lệnh hành quân theo đường 14 về Đồng Xoài, tỉnh Phước Long rồi nhận lệnh hành quân thần tốc tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam.

Ngày 30/4, Tiểu đoàn 18 tham gia chiếm lĩnh, chốt giữ, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu tại TP Sài Gòn - Gia Định, trong đó có: Đại sứ quán Mỹ, Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn, Sân bay Tân Sơn Nhất, bảo vệ Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh - Truyền hình, Tòa báo Sài Gòn, Nhà máy điện Thủ Đức, Ủy ban Quân quản TP Sài Gòn - Gia Định.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phân đội Vùng mỏ của B18 vào Nam có 39 chiến sĩ thì 12 người đã hy sinh, nhiều người bị thương, nhiều người là nạn nhân chất độc da cam. Riêng ông Nguyễn Quang Vinh thời điểm đó đang mang quân hàm trung úy, mấy lần bị thương nặng tưởng hy sinh. Miền Nam giải phóng, non sông đã thu về một dải nhưng phải vài năm sau, ông Vinh và các đồng đội mới ra Bắc trở về quê hương.

Đích đến cuối cùng là Dinh Độc Lập

Không tập trung thành các đơn vị riêng biệt như những người nói trên, CCB Nguyễn Quang Tâm (phường Cẩm Trung, TP Cẩm Phả) CCB Tiểu đoàn Súng máy cao xạ 24 (Z24 thuộc Sư đoàn 9) kể lại: “Đơn vị của tôi được thành lập năm 1966. Đến giữa năm 1974, Tiểu đoàn 24 sáp nhập vào Trung đoàn 42. Mùa xuân 1975, khí thế cách mạng lên cao tạo điều kiện để chúng ta tiến công vào hang ổ cuối cùng của chính quyền ngụy quân. Đại đội 3, Tiểu đoàn 24 đã phối thuộc với Trung đoàn 3 bộ binh theo hướng Tây Nam tiến thẳng vào Sài Gòn".

Chiến sĩ Tiểu đoàn Súng máy cao xạ 24 (Z24 thuộc Sư đoàn 9) chụp ảnh lưu niệm mừng chiến thắng 30/4.
Chiến sĩ Tiểu đoàn Súng máy cao xạ 24 (Z24 thuộc Sư đoàn 9) chụp ảnh lưu niệm mừng chiến thắng 30/4. (Ảnh: Ban Liên lạc Tiểu đoàn cung cấp)

CCB Trần Ngọc Dương (phường Cẩm Tây, TP Cẩm Phả) đồng đội cùng đơn vị với ông Tâm, góp chuyện: “Những người lính thợ mỏ như chúng tôi rất háo hức muốn tiến vào thành phố sầm uất được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông ấy”. Từ Tây Ninh, Tiểu đoàn 24 vòng xuống huyện Đức Huệ, tỉnh Long An rồi vượt qua thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An rồi ngược trở về Sài Gòn bằng cách vượt qua sông Vàm Cỏ Đông.

Ông Dương cho biết: "Lúc đó anh em hăng hái lắm. Đến nỗi cấp trên ra lệnh khi tiến công, dù có lạc thì cũng phải tập trung tại Dinh Độc Lập. Đích đến là Dinh Độc Lập". Đơn vị của ông Dương hòa vào đoàn quân trùng điệp kéo dài gần 10km tiến về Sài Gòn. Chiến sĩ nào cũng hồ hởi. "Dọc con đường tiến quân vào buổi sáng 30/4 năm ấy, chúng tôi thấy quần áo, vũ khí của ngụy quân Sài Gòn vứt lung tung khắp mặt đường. Ở các mục tiêu đơn vị chúng tôi chịu trách nhiệm chiến đấu, giấy tờ tài liệu các loại địch vứt bỏ phủ trắng mặt đất. Riêng tôi tiến đến Dinh Độc Lập bằng xe gắn máy với một nhóm chiến sĩ ở Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định." - CCB Trần Ngọc Dương nhớ lại.

Đơn vị của ông Dương về đến Dinh Độc Lập thấy công viên trước cổng Dinh ngập tràn sắc áo xanh quân giải phóng. Họ tỏa ra khắp công viên ca hát, ôm nhau hò hét, nhảy múa ăn mừng chiến thắng. Một rừng hoa, rừng người đổ ra đường phố chào đón quân giải phóng. Những chiếc xe, tăng xe thiết giáp ùn ùn kéo về Dinh vây kín vòng trong vòng ngoài.

Trong trận đánh cuối cùng giành chiến thắng, những đoàn quân giải phóng tiến nhanh như vũ bão với nhiều thuận lợi nhưng hy sinh vẫn là điều không tránh khỏi. Ngày cuối cùng, đơn vị ông Dương vẫn có người hy sinh ở ngã tư Bảy Hiền (nay thuộc quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh). Nhìn đồng đội ngã xuống trong ngày đại thắng, không ai trong đơn vị ông Dương có thể cầm nước mắt.

CCB Nguyễn Văn Vân (bên trái) cùng đồng đội ôn lại kỷ niệm ở chiến trường.
CCB Nguyễn Văn Vân (bên trái) cùng đồng đội ôn lại kỷ niệm ở chiến trường.

Còn CCB Nguyễn Văn Vân (D375, Sư đoàn 320) hiện đang sinh sống ở khu 9, phường Hà Khẩu, TP Hạ Long cho biết: Ban đầu ông ở B3 Tây Nguyên, khi phục vụ chiến dịch Tây Nguyên, ông cùng đơn vị tiến về Sài Gòn theo mũi tấn công từ Xuân Lộc vào giải phóng sân bay Tây Sơn Nhất rồi bàn giao lại cho Quân đoàn 4.

CCB Nguyễn Văn Vân kể, chiều 30/4, dường như cả Sài Gòn đổ xô ra đường. Bà con xuống đường với cả rừng cờ, rừng hoa chào đón đoàn quân giải phóng. Nhiều người ôm chầm lấy bộ đội như người thân quen nay gặp lại. Những người như ông Vân sẽ không thể nào quên ngày hội thống nhất non sông đó. Có mặt trong ngày vui đại thắng là vinh dự và tự hào của những người lính như ông.

Những ngày này, ký ức chiến trường lại được ông Vân, ông Thinh, ông Vinh và nhiều CCB khác ngồi bên nhau xúc động kể lại cho cháu con. Những câu chuyện hào hùng đó cũng là nền tảng để các ông giáo dục truyền thống cho cháu con, cho thế hệ trẻ tiếp bước cha ông trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc, xây dựng Vùng mỏ anh hùng ngày càng giàu đẹp.

Phạm Học

.
.
.
.
.
.
.
.