Xuống lò cùng thợ mỏ Vàng Danh

Chủ Nhật, 17/12/2017, 06:26 [GMT+7]
.
.

Từng đọc nhiều ca dao Vùng mỏ, tôi nghiệm ra rằng người phu mỏ xưa rất sợ cái khắc nghiệt của chốn rừng thiêng nước độc ở mỏ Vàng Danh. Có thể các cụ nhà ta xưa cũng nói quá lên về thân phận phu phen của mình. Tôi nghĩ vậy và muốn xuống lò của Công ty CP Than Vàng Danh để chứng minh cho suy nghĩ đó.

Thợ lò hô quyết tâm trước khi vào ca.
Thợ lò Công ty CP Than Vàng Danh hô "Quyết tâm" đảm bảo an toàn trước khi vào ca.

Thợ lò Dương Văn Nghĩa và một cán bộ an toàn của Công ty CP Than Vàng Danh đưa chúng tôi xuống lò. Nghĩa bảo: “Các anh hãy đi cùng chúng em để em khỏi phải kể. Chuyện thợ lò có kể cả ngày cũng không hết. Kể xong cũng chưa chắc đã hiểu hết được”.

Nghĩa đưa chúng tôi đến Phân xưởng Khai thác 12 (ở đây viết tắt là KT12) để đi ca hai cùng thợ lò. Ca hai từ 2 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Phân xưởng của Nghĩa có 140 công nhân, chia làm 3 tổ đi 3 ca, luân phiên nhau. Mỗi ca có 1 phó quản đốc cùng làm với anh em. Thợ lò như Nghĩa liên tục được đổi ca để sao cho không ai chỉ phải đi ca ba. Anh cán bộ an toàn hướng dẫn chúng tôi làm thủ tục và trang bị những dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết. Tôi mang trên mình bộ đồ như một thợ lò chính hiệu. Chỉ khác nếu như Nghĩa và đồng đội có thể mang thêm búa lò hay một số vật liệu khác thì chúng tôi lỉnh kỉnh máy ảnh, sổ tay, ghi âm... để tác nghiệp. Nghĩa đề nghị giúp chúng tôi mang máy móc vì xuống lò đi lại vất vả. Chúng tôi xua đi, bảo nào đã thấm tháp gì so với anh em thợ lò.

Nhà ga là nơi thợ lò ca trước gặp ca sau.
Nhà ga là nơi thợ lò ca trước gặp ca sau.

Chúng tôi cùng Nghĩa và các đồng nghiệp của anh xuống vỉa than số 7, KT12. Muốn đến vỉa 7, phải đi 2 chặng xe: Xe tời và xe song loan; tổng cộng mất khoảng 40 phút. Tôi đang hình dung mình là hành khách trong một toa tàu hỏa tí hon. Có tiếng chuông leng keng, "chiếc tàu hỏa đặc biệt" của chúng tôi chuyển bánh lao vào lòng đất. Xung quanh tối dần rồi không còn nhìn thấy ánh sáng tự nhiên đâu nữa. Tiếng người cũng nhẹ hơn, thì thào hơn so với ở trên mặt đất. Đang từ nơi tràn ánh sáng xuống chỗ tối tăm, đôi mắt và đôi tai cứ phải căng ra. Thế rồi dần dần, mắt tôi cũng quen với không gian đêm tối.

Xuống hết nhà ga thứ nhất, Nghĩa thông báo rằng chân chúng tôi đang đặt ngang mực nước biển. Từ đây, chúng tôi lại phải “chuyển tàu”. “Con tàu” mang tên song loan nghe rất gợi, lao đi trong bóng tối. Xe song loan hơi ồn nhưng cũng đủ để tôi nghe rõ tiếng nước róc rách hai bên. Theo giải thích của anh em thợ lò, đường lò luôn được làm theo độ nghiêng nhất định. Nước thải mỏ theo mặt nghiêng đó mà được gom lại bể chứa, đưa về khu vực cần xử lý.

Thỉnh thoảng, đoàn xe chúng tôi lại gặp một ánh đèn lò le lói giống như chú đom đóm thao thức trong đêm. Đi trong lò dưới lòng đất, nhìn ánh đèn lò, chúng tôi thấy mình thật nhỏ bé.

Nghĩa điều chỉnh cột chống lò bằng hệ thống thủy lực.
Khoan vào gương than - công việc thường ngày của những người thợ lò.

Hệ thống đường lò chật và bé nhưng được bố trí hệt như đường giao thông trên mặt đất. Ở đó cũng có biển báo chỉ đường, cũng phải dừng lại tránh tàu tránh xe, nhường nhịn lẫn nhau. Tôi cứ miên man suy nghĩ, chẳng mấy mà hết chặng thứ hai. Bây giờ, chúng tôi đến đoạn đường đi bộ tính ra dài mấy cây số. Đường lò chợ thu hẹp lại và lắt léo hơn nhiều. Có chỗ lắt léo, lên xuống, tạt trái, rẽ phải như mê cung. Nếu không đi cùng Nghĩa thì dù có bảng chỉ đường chắc chắn tôi cũng sẽ lạc.

Càng đi sâu xuống, chúng tôi càng cảm thấy ngột ngạt vì thiếu dưỡng khí. Qua những chỗ thợ lò đang khoan vào vỉa, bụi than bay ra mù mịt, tôi cảm thấy càng khó thở hơn. Vậy nhưng, mấy anh thợ lò thì cứ đi phăm phăm, chân bước nhẹ tênh như đang đi dạo. Nhiều mỏ khác có đường lò đi trong đất đá, ở vỉa 7, đường lò lại đi trong than. Cái câu “đường lò đi trong than” của Nghĩa nghe thì rất bâng quơ nhưng tôi nghe lại thấy rất thú vị. Quá đúng ấy chứ, đường đi của thợ lò là đường được than dẫn dắt. Nếu đào lò mà không gặp vỉa chỉ gặp đất đá thì người thợ coi như đã thất bại.

Mà than nhiều thật. Trước mắt tôi, cơ man nào là than đen óng ánh dưới đèn lò. Than trên nóc lò. Than hai bên hông lò. Than trong gương lò. Than lạo xạo dưới chân tôi. Than là món quà quý giá mà đất mỏ thân yêu dành tặng con người. Than nhiều đến mức tổ của Nghĩa trong 1 ca 8 tiếng, hơn 30 người có thể khai thác hơn 200 tấn.

Nhưng than chỉ là quà quý với những người thợ mỏ chuyên cần. Chàng trai Dương Văn Nghĩa, sinh năm 1987, quê ở Hải Dương bảo, ra mỏ này mình đi làm có thể nuôi được vợ và 2 cô công chúa nhỏ là nhờ món quà của than. Nói thế là bởi vì chị Lương Thị Mai Loan, vợ Nghĩa chưa có việc làm, đang ở nhà nuôi 2 con nhỏ. Sinh hoạt của cả gia đình trông chờ vào đồng lương đào lò của Nghĩa. Bù lại, công việc đào lò mang lại cho Nghĩa môi trường phát triển năng lực và thu nhập tốt, đủ để lo cho gia đình. Trong khi bình quân thu nhập của anh em trong phân xưởng chỉ 13 triệu thì bình quân thu nhập của Nghĩa lên đến 24 triệu đồng/tháng. Cá biệt, thu nhập tháng trước của Nghĩa lên đến 30 triệu đồng.

Nghĩa điều chỉnh hệ thống chống lò bằng thủy lực.
Thợ lò Dương Văn Nghĩa điều chỉnh hệ thống chống lò bằng thủy lực.

Tôi biết, để có mức thu nhập ấy, không biết bao nhiêu giọt mồ hôi thấm trên vai áo người thợ. Nếu mồ hôi được chưng cất vào can, vào thùng thì dễ chắc mỗi người thợ lò như Nghĩa phải đánh đổi cả trăm cả ngàn lít để cho những tấn than ra. Vậy mà Nghĩa nói với tôi về khó khăn gian khổ cứ nhẹ tênh như không.

Xuống lò cùng Nghĩa, áo ướt đầm như áo Nghĩa, hít thở bầu không khí đặc bụi than như Nghĩa, tôi mới hiểu thế nào là “Mỗi khi lò thủng, đón cơn gió Nồm Nam mát rượi” (lời trong ca khúc Tôi là người thợ lò của nhạc sĩ Hoàng Vân). Nghĩa giải thích: Khi thi công lò từ hai phía, gió chưa được thông nên không khí thường ngột ngạt khó chịu. Người thợ từ hai phía chỉ mong chóng thông lò, vừa vượt kế hoạch đào lò vừa được đón ngọn gió mát lành từ cửa lò thổi xuống. Hay “gió tươi” là gió trong lành thổi qua khu vực chưa khai thác. Nghĩa bảo, gió tươi thì thợ lò nào chẳng thích. Đang ở trong lò chợ chật chội ra lò vận chuyển chưa qua khai thác để đón ngọn gió trong lành thông thoáng anh em như quên đi mệt nhọc. Nghĩa giải thích cặn kẽ cho tôi như một chuyên gia đã nhiều năm nghiên cứu mỏ. Thực ra, Nghĩa chẳng biết nghiên cứu là gì. Tất cả được đúc kết từ kinh nghiệm gần chục năm đi lò vất vả của anh.

Xuống lò Vàng Danh tôi đã trả lời được câu hỏi: Tại sao công việc gian khổ thế mà những người thợ lò gắn bó cả đời không một chút than phiền. Những người như Nghĩa làm lò vì hợp mỏ, vì say nghề mỏ, vì thu nhập cao. Còn có những người làm lò vì dòng máu thợ mỏ chảy trong huyết quản. Anh Nguyễn Văn Kiên, Phó Quản đốc phân xưởng KT12 bảo, nhà có người làm nghề này nên từ bé đã được định hướng. Lớn lên anh Kiên cũng thích được thành thợ mỏ nên đã thi vào Đại học Mỏ Địa chất, ra trường thì về mỏ Vàng Danh công tác. Anh Kiên bảo, làm mỏ ai cũng biết là vất vả mệt nhọc và đôi lúc cả nguy hiểm nữa, nhưng đã trót yêu thì nó gắn như số mệnh không thể nào dứt ra được. Những người đã làm mỏ gần chục năm rồi chẳng mấy người xa được mỏ. Hễ vài ngày không vào lò là trống vắng, bứt rứt không yên.

Cũng theo anh Kiên, công nhân bỏ mỏ thường là người mới vào nghề, chưa được rèn luyện qua gian khổ. Thanh niên đang được cưng chiều trong gia đình học xong xuống lò không chịu được vất vả. Bởi vậy, không chỉ ở Công ty CP Than Vàng Danh mà ở nhiều mỏ khác, những gia đình thợ lò như nhà anh Kiên đang ít dần.

Nghĩa khoe với anh em đồng nghiệp về mức thu nhập vừa đạt được.
Thợ lò Dương Văn Nghĩa khoe với đồng nghiệp về mức thu nhập vừa đạt được.

Kết thúc câu chuyện dưới lò với anh Kiên, chúng tôi lên mặt đất bằng tời. Chiếc xe chạy ngược so với chiều chúng tôi xuống. Lưng chúng tôi hướng về phía cửa lò nên chưa nhìn thấy ánh sáng trên mặt đất mà chỉ cảm nhận được hơi lạnh. Đang ở dưới lò toát mồ hôi giờ lên mặt bằng, gió lạnh quất vào gáy, vào mang tai làm ai nấy rét run.

Trời mùa đông sẫm tối nhưng trên mặt đất còn có ánh sáng đèn cao áp, có đèn đường thành phố và người, xe đi lại. Không khí trên mặt đất cũng làm chúng tôi dần ấm lại. Nhưng ngọn gió lạnh ngắt hun hút thổi xuống cửa lò cũng làm tôi nhớ lại câu của người phu mỏ thời Pháp thuộc đã đúc kết: “Ruồi vàng, bọ chó, gió Vàng Danh”. Vàng Danh xưa kia là chốn rừng thiêng nước độc. Người phu mỏ rỉ tai nhau rằng đây là nơi đọa đày: “Ai đi Uông Bí, Vàng Danh/ Má hồng để lại, má xanh mang về”. Nhưng đấy là câu chuyện trong ca dao Vùng mỏ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Còn bây giờ, dưới bàn tay chăm chỉ và khối óc sáng tạo của người thợ mỏ, vùng đất này đã nở hoa, thành nơi đáng sống của hàng ngàn gia đình “chiến sĩ” áo xanh, đèn lò.

Bây giờ, ngành Than đã rất quan tâm đến công nhân, đời sống thu nhập của thợ lò luôn được đảm bảo. Riêng ở Vàng Danh, thợ lò còn được ưu đãi hơn, phụ cấp cao hơn những mỏ khác vì tính chất công việc khó khăn, vất vả. Vậy thì bây giờ tìm đâu ra những người thợ lò đói ăn và dặt dẹo bệnh tật, mặt xanh nanh vàng như xưa nữa. Nhưng mặt đen thì có và vẫn luôn là như thế. Thợ lò bao giờ chẳng mang gương mặt của than. Nhìn gương mặt đen nhẻm của Nghĩa trên cửa lò, tôi nghĩ câu ca dao kia đã không còn đúng nữa.

Phạm Học

Tin liên quan

.
.
.
.
.
.
.
.