Chuyện tình cổ tích giữa đời thường

Chủ Nhật, 01/10/2017, 09:12 [GMT+7]
.
.

Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã đưa họ đến sông Gianh(tỉnh Quảng Bình), để họ “thương thầm nhớ trộm”, rồi lại bặt tin nhau. Sau 48 năm xa cách, họ tình cờ tìm được nhau để nối lại mối duyên tình.

NGƯỜI YÊU TRONG MỘNG

Đó là câu chuyện của ông Phạm Hữu Xuân (phường Hà Tu, TP Hạ Long) và bà Vũ Thị Thúy Nga (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Khi nghe ông bà kể lại chuyện này, tôi tưởng như mình đang được đọc một câu chuyện cổ tích giữa đời thường vậy. 

Ông Xuân và bà Nga vui mừng khi gặp lại nhau. (Ảnh tư liệu của nhân vật).
Ông Xuân và bà Nga vui mừng khi gặp lại nhau. Ảnh tư liệu của nhân vật.

Ông Xuân năm nay đã bước sang tuổi bát thập nhưng lúc kể chuyện này dường như ông trẻ lại ở tuổi đôi mươi. Những năm 60 của thế kỷ trước, ông là lính đặc công nước, tạm biệt quê hương vào Nam đánh Mỹ. Bà Nga lúc đó là thanh niên xung phong mới 17 tuổi đã trốn nhà đi vào chiến trường. Tình  cờ hai đơn vị đều đóng quân ở bên sông Gianh nên 2 người biết nhau. Ông Xuân quý cô gái có nước da trắng trẻo, tóc như mây trời nên gọi là Vân Nga. Nhưng bà Nga không chịu, ông Xuân bèn dịch nôm ra là Mây Tây (vân là mây còn Nga thì ở bên Tây). Ông còn tếu táo bảo rằng chiến tranh ác liệt nay sống mai chết không biết thế nào, nếu bà hy sinh ông sẽ khấn rằng: “Mây Tây ơi hỡi Mây Tây/Về đây mà hưởng thịt cầy với anh”.

Đùa tếu táo thế chứ chiến tranh lấy đâu ra thịt cầy. Không ngờ lời đùa mà hóa thật. Trong một trận càn của giặc, đơn vị bà Nga hy sinh gần hết, ông Xuân đau buồn tin rằng áng mây của ông đã bay về trời. Ông cũng hối tiếc về những năm tháng chiến tranh cố ý giữ khoảng cách bằng cách bắt bà Nga gọi là chú dù chỉ hơn 10 tuổi. Mỗi lần bà Nga quen miệng gọi anh là lại bị ông chỉnh bằng một cái véo tai. Ông Xuân luôn nhớ hình bóng cô gái thanh niên xung phong trong trắng, thích nghe đọc thơ. Ông bảo, lính cụ Hồ thời đó nghiêm túc lắm, tất cả vì tiền tuyến, vì miền Nam, vì cái chung chẳng ai nghĩ đến riêng mình.

Nhưng lần đấy, thực ra bà Nga chỉ bị thương nặng được đồng đội và nhân dân cứu chữa đưa về hậu phương. Bà cũng bặt tin ông từ đó, tưởng ông đã hy sinh. Hết chiến tranh bà Nga ra Hà Nội theo học bác sĩ rồi về công tác tại quê nhà. Ông Xuân về Quảng Ninh. Cả hai ông bà đều yên bề gia thất cùng đào sâu chôn chặt mối tình thời chiến tranh.

Ông Phạm Hữu Xuân (thứ hai, trái sang) ôn lại câu chuyện này cùng bạn hữu.
Ông Phạm Hữu Xuân (thứ hai, trái sang) ôn lại câu chuyện này cùng bạn hữu.

TÌNH MUỘN KHÓ GẦN

Câu chuyện tưởng chừng sẽ đi vào dĩ vãng nếu không có cái ngày cuối năm 2013, 48 năm sau khi mất liên lạc, ông Xuân tình cờ đọc được một bài thơ viết về sông Gianh của tác giả Vũ Thị Thúy Nga. Ông Xuân không giấu được xúc động: “Bài thơ viết về sông Gianh hay tuyệt. Tôi cứ ngồi lẩm bẩm sao lại có người phụ nữ nào làm thơ hay đến thế”.

Ông Xuân ngờ ngợ cái tên và địa danh nên tìm số điện thoại gọi tác giả để nói chuyện thì đúng là “cố nhân”. Bà Nga bùi ngùi kể cho ông nghe lần bà bị thương được đưa vào cái hang của các chiến sĩ hải quân cứu chữa, chuyện gặp một bác sĩ được định hướng theo học nghề y, chuyện nghe tin ông hy sinh... Bà còn gửi tặng ông tập thơ lấy bút danh Mây Tây, cái tên mà ngày xưa ông đã đặt riêng cho bà. Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Xuân hạnh phúc như bắt được vàng khi biết cô thanh niên xung phong của ông năm xưa còn sống nay đã lên bà.

Kể từ đó, hai người lính già nhắn tin, gọi điện cho nhau hàng ngày để chia sẻ cảm xúc, chia sẻ những mất mát đau thương của đồng đội. Hai ông bà có cơ hội đến với nhau lúc xế chiều khi cả hai đều đang ở goá. Nhưng đến tận bây giờ khi nói chuyện với tôi có vẻ như ông Xuân vẫn còn ngài ngại với con cháu. Ông gọi mối tình bây giờ của mình là “mối tình viễn thông”. Những tin nhắn hỏi han động viên nhau bằng vần vè, ông Xuân đều ghi chép lại cẩn thận như bảo bối. Tình cờ, bạn bè ông đọc được thấy thơ hay họ động viên ông xuất bản. Vậy là ông bà không ở cùng nhau nhưng tâm hồn luôn bên nhau và lại còn có chung một “đứa con tinh thần” là tập thơ độc đáo. Tập thơ rất lạ bởi toàn bộ 300 bài đều là tin nhắn bằng thơ qua điện thoại. Đó là nguồn sống là lời động viên nhau của 2 ông bà.

Đứa con chung được ông bà đặt tên là “Hoàng hôn mây trắng” với ý nghĩa rằng chuyện nối lại tình xưa lúc xế chiều và phù du như mây; mây trắng còn là biểu tượng mà ông đặt cho bà thời thiếu nữ cũng là sự trong sáng của tình yêu. Nói phù phiếm cũng không hoàn toàn đúng bởi vì chính mối tình đó đã giúp ông cụ bát thập gần đất xa trời ốm đau đi phải chống gậy, trí nhớ suy giảm và nhiều khi cứ lẩn thẩn đã bừng tỉnh vui vẻ khỏe mạnh. Bà Nga cũng đã vượt qua được chứng bệnh trầm cảm nhờ những tin nhắn yêu thương của ông Xuân.

Riêng bà, qua những câu thơ của ông, bà như được sống lại những năm tháng đẹp nhất thời thanh niên xung phong. Bà thừa nhận mối tình trong những tháng năm tuổi trẻ: “Anh đã cho em một mối tình/Mà em chẳng đẹp cũng không xinh”.

Tôi hỏi vui ông Xuân rằng sao ông bà không xưng hô “chú- cháu” như hồi ở chiến trường nữa. Ông cười bảo, thời ấy nó thế. Chiến tranh mà. Bây giờ phải “anh – em” chứ! Vừa nói chuyện với tôi ông Xuân vừa luôn tay với cái điện thoại nhắn tin cho “em yêu”. Lúc nào thấy điện thoại im lìm là ông lại lo lắng phấp phỏng. Mắt ông còn tinh tường, mọi động tác bấm phím còn thiện nghệ lắm, nhoay nhoáy nhắn tin như thanh niên. Ông Xuân kể: Chuyện mà ông bà nói với nhau thôi thì vô kể, trên trời dưới bể. Từ chuyện ăn mít đến chuyện mua máy điều hòa, chuyện con cháu bạn hữu, thơ ca, chuyện chiến tranh lửa đạn. Những câu chuyện không đầu, không cuối ấy bất chấp thời gian mưa nắng có thể bùng phát lúc nửa đêm gà gáy. Họ nói chuyện với nhau để khoả lấp không gian xa cách. Ông Xuân bảo, ông trời đã thương sao không thương hết, cho hai người nối lại mối tình khi đã về già, nhưng không cho ở bên nhau. Hai người lính già xa cách đôi nơi người Nam Định, người Quảng Ninh. Với lại, theo ông Xuân, bà Nga còn phải đảm đương rất nhiều trọng trách ở gia đình.

Tình yêu cách trở là tình yêu mãnh liệt và chỉ dâng trào bằng tin nhắn thơ mà thôi. Điều đó làm cho bà Nga có những lúc hẫng hụt, trách tạo hóa: “Trách ông trời nỡ bất công/Đã se tình muộn lại không cho gần”. Còn ông thì cam chịu lắc đầu bảo: “Thôi thì tình chay cũng được. Lâu dần cũng quen”. Bởi thế thơ họ luôn ao ước được gặp nhau: “Ước gì ta gặp được mình/Người yêu trong mộng, người tình trong mơ”.

Bà Nga (bên phải) trong cuộc giao lưu thơ trên VTV1 (Ảnh tư liệu của nhân vật)
Bà Nga (bên phải) trong cuộc giao lưu thơ trên VTV1. Ảnh tư liệu của nhân vật

Tuy nhiên, nói xa thì xa thật nhưng cái tình của cặp đôi này cách mặt nhưng không cách lòng. Nếu ai đó đến gặp họ, nghe họ nói chuyện, nhắn tin cho nhau mới thấy sự mặn nồng không kém gì tình yêu của tuổi trẻ. Ông Xuân cho biết: “Chúng tôi giao hẹn với nhau rằng sẽ sống lại cái thời kỳ tuổi trẻ để động viên nhau trong cuộc sống”.

Trên đường từ nhà ông Xuân về tôi cứ nghĩ mãi về câu chuyện tình yêu đẹp sau 48 năm xa cách, những người một thời say đắm giờ đã nhận ra nhau qua một bài thơ. Họ đến với nhau bằng tâm hồn để quên đi rằng mình đã già. Chuyện chắc chỉ có ở những người đã hy sinh tuổi trẻ và tình yêu cho đất nước trong những năm lửa đạn. 

Phạm Học

.
.
.
.
.
.
.
.