Ngẫu hứng với nhà thơ, nhà báo Như Mai

Chủ Nhật, 18/06/2017, 05:58 [GMT+7]
.
.

Khi viết báo, nhà báo Như Mai sắc sảo, tỉnh táo bao nhiêu thì khi làm thơ cụ ngẫu hứng bấy nhiêu. Ngẫu hứng cũng là tên tập thơ duy nhất đến nay của cụ.

Nhà thơ - nhà báo Như Mai (bên phải) ngạc nhiên ngay cả với bức chân dung của mình do nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha chụp tặng.
Nhà thơ - nhà báo Như Mai (bên phải) ngạc nhiên ngay cả với bức chân dung của mình do nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha chụp tặng.

Nhà thơ - nhà báo Như Mai tên thật là Ngô Huy Bỉnh, quê gốc ở Hưng Yên. Cụ Như Mai sinh năm 1924 tại Hải Phòng, lớn lên và học tập ở Hà Nội. Như Mai hoạt động cách mạng từ sớm khi mới 20 tuổi, phụ trách Thanh niên cứu quốc Liên khu 2, làm báo Cứu quốc. Bút danh Như Mai là tên ghép hai người yêu: Như và Mai một người sau này là vợ của cụ.

Từ năm 1958, Như Mai về công tác ở Báo Vùng Mỏ (sau này là Báo Quảng Ninh) làm Tổ trưởng Tổ Công nghiệp, rồi Thư kí toà soạn. Năm 1987, nhà báo Như Mai nghỉ hưu và sau đó làm cộng tác biên tập cho Báo Hạ Long.

Ngoài vai trò nhà báo, Như Mai còn được bạn đọc biết đến với tư cách nhà thơ. Thơ Như Mai mang nặng tâm sự thời thế. Nhưng còn một mảng thơ khác là tình mới đúng cái chất Như Mai, một giọng điệu thơ thiết tha, xúc động, ngẫu hứng tuôn trào theo dòng cảm xúc: “Em ập đến phòng tôi cô quạnh/ Treo trả trên tường cây đàn bỏ quên/ Tôi hồ nghi không biết có là em? Người tình mộng thuở CHIÊM BAO MÀU ĐỎ/ Tóc trắng phớ trò dâu kia bể nọ/ Nay lại vỡ lòng/ Lọ mọ học YÊU - TIN”.

Khi tuổi đã xế chiều, nhà thơ Như Mai vẫn “lọ mọ học yêu tin”. Bởi thế sẽ không quá khi cố nghệ sĩ nhiếp ảnh Tô Minh Bình đã gọi ông là “Anh lão đa tình”. Quả thật khó mà hình dung được Như Mai vẫn viết về tình yêu lãng mạn đến kiểu này khi đã ngoại bát tuần: “Và đến tôi như biểu tượng Mùa Xuân/ Tóc và sóng nôn nao trên tấm lưng trần/ Tôi lặp lại đời em/ lặp lại chính mình/ Đi suốt màu xanh của tóc và sóng”.

Khi tôi hỏi cụ, bây giờ còn yêu không; cụ cười bảo: Phải yêu chứ, nhưng mà là ma nên chỉ “giả vờ” yêu thôi. Yêu ma thật thì chết. Cái kiểu gọi Như Ma cũng là cách tự giễu nhại chính cái bút danh của mình: Như Mai là Như Ma, Ngu Như Ma. Như Ma thì cũng chỉ là một cách vơ vào thôi bởi chính nhà thơ cũng còn loay hoay đi tìm bản thể của mình: “Em hỏi tôi là ai/ tôi đâu tự biết/ Là Ma Vương? Quỷ Sứ? Thiên Thần/ Hay tất cả ở trong tôi, tất cả/ Chọn tim tôi làm mảnh đất tranh phần/ Trong căn hộ Người Đời / Phật và Ma cùng ở/ Tôi đâu cần áo gấm với cà sa/ Khoác bộ cánh hề mồi, hề gậy/ Tặng em chuỗi cười thay những nhành hoa…”. “Ta là ai?” là câu hỏi triết học mà đến nay chưa ai giải đáp nổi chứ không riêng gì cụ.

Trong cuộc tình và trong cuộc đời cũng vậy. Như Mai mải miết săn tìm cái đẹp hư ảnh, cái lý tưởng, không có thực như đi tìm bản ngã của mình: “Tôi thắp lại cái nguyên xanh/ thời trai trẻ/ Chín nhớ mười mong một ngã ba tình/ Một chút hờ hôn/ Đôi thoáng hững nhìn/ Tôi đuổi bắt cái vô hình vô ảnh”. Nhưng cái đẹp ấy mãi chỉ là huyền thoại, người thợ săn cái đẹp chỉ gặp thực tế đầy trụi trần, thô ráp: “Trước tượng khoả thân em/ Tôi săn đuổi cái huyền thoại/ Sự Thật Trụi Trần/ Suốt nghìn lẻ một đêm/ Khát vọng”. Càng kiếm tìm càng không thấy, càng không thấy nên càng khát vọng, nhưng suốt đời ông vẫn giữ cho mình cái khát vọng ấy: “Treo một nhành Xuân trước cửa/ Chờ em trẩy hội tâm linh/ Tay vẫn bỏng cầm nỗi nhớ/ Giữ nguyên hư ảo cho mình”.

Với Như Mai, nàng thơ mãi mãi chỉ là người tình hờ hững, trói buộc đấy rồi lại trút bỏ ngay. Nhưng cũng chính cái nhìn ngẫu hứng, ban phát của nàng thơ sẽ là mưa bóng mây dịu bớt khát khao nung nấu: “Em buộc hồn tôi nơi cuối mắt/ Lại buông lơi ở phía đầu mày/ Tôi hành hương bao ngày Khô khát/ Ngậm thoáng nhìn em Mưa Bóng Mây”.

Trước sự đời, tình đời và cả tình yêu nữa, Như Mai là khách lữ hành cô độc: “Tôi đảo đá... trầm tư góc bể/ Đứng thương vay ai kẻ mất chân trời/ Đứng nghe nhìn sóng réo mây trôi/ Bạc mắt/ bạc đầu/ nỗi đau nhân thế”. Cô độc và trầm tư nhưng Như Mai vẫn thiết tha kiếm tìm tấm lòng đồng điệu. Tuổi cao nhưng cụ vẫn có thói quen hàng ngày xuống phố thăm bạn. Tìm mà chẳng gặp nhưng cụ vẫn đi. Điện trước gặp cụ thật khó bởi cụ chẳng nhớ mình lên nhà thì cụ lại xuống phố. Có khi ngẫu hứng lại gặp cụ đạp xe trên đường. Có một dạo sáng nào cũng thấy cụ dắt xe đạp từ dốc Nhà thờ xuống phố. Cụ đi như người mộng du. Đi như thói quen đã được lập trình từ bao năm nay. Cụ lên trụ sở Hội Văn nghệ, đi thăm bạn bè. Có người mất đã lâu cụ cũng tưởng như họ vẫn còn sống, vẫn đang bên cụ tâm tình trò chuyện. Mời cụ vào quán cà phê cụ toàn nhắc tên những người đã khuất rồi bảo mới gặp họ ở Hà Nội. Hỏi người đương thời thì cụ chẳng nhớ. Những chuyện đương thời không rõ cụ chẳng nhớ hay chẳng bận tâm. Nhưng thơ thì cụ Mai nhớ lắm. Ngẫu hứng cụ kéo một hơi thuốc lào rồi đọc vanh vách những bài có khi được viết cách nay nửa thế kỷ.

Ngẫu nhiên đến với cuộc đời, ngẫu nhiên quen bóng hồng nào đó, ngẫu nhiên yêu, ngẫu hứng thì làm thơ. Và cuối đời thì buông bỏ quên tất cả; khi ngẫu hứng thì nhớ. Đó là trường hợp của nhà văn, nhà báo Như Mai.

Huỳnh Đăng

.
.
.
.
.
.
.
.