.

"Phủ sóng" mạng lưới an toàn vệ sinh viên

Cập nhật lúc 05:31, Thứ Ba, 18/02/2014 (GMT+7)

Mạng lưới ATVSV, còn thiếu và yếu

Hiện Quảng Ninh có khoảng 11.000 an toàn vệ sinh viên (ATVSV). Họ là cầu nối giữa NLĐ và người sử dụng lao động trong việc thực hiện các quy định về an toàn trong quá trình sản xuất. Đội ngũ này vừa là người hướng dẫn công tác an toàn cho NLĐ vừa là người theo dõi, giám sát và kiến nghị với người sử dụng lao động trong việc thực hiện các quy định về an toàn.

Để phát huy vai trò của ATVSV nhằm đảm bảo ATVSLĐ trong các cơ quan, đơn vị, DN, các ban, ngành, đoàn thể, đơn vị, nhất là tổ chức công đoàn hàng năm đều tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, xây dựng quy chế hoạt động, có đơn vị có chế độ phụ cấp hàng tháng trên cơ sở phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng ATVSV. Nhiều cơ quan, đơn vị, Công đoàn duy trì và tổ chức tốt hội thi ATVSV giỏi, điển hình là các doanh nghiệp ngành Than, Công ty Xăng dầu B12, CĐCS thuộc LĐLĐ Hạ Long, LĐLĐ TP Uông Bí, LĐLĐ TP Cẩm Phả, LĐLĐ huyện Đông Triều, LĐLĐ huyện Hoành Bồ, Công đoàn các ngành: Công thương, Xây dựng, GT-VT. Qua hội thi, nhiều chính sách, chế độ BHLĐ mới, kiến thức về kỹ thuật ATVSLĐ-PCCN được phổ biến đến NLĐ... Nhờ đó, mạng lưới này đã được củng cố về số lượng, từng bước được bồi dưỡng nâng cao chất lượng. Mạng lưới ATVSV đã đem lại những hiệu quả thiết thực, góp phần cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa sự cố, hạn chế TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, bảo vệ sức khoẻ, tính mạng và quyền lợi NLĐ.

Một tiết mục dự thi tuyên truyền về ATVSLĐ tại Hội thi An toàn - Vệ sinh viên giỏi lần thứ 8-2013 do Vinacomin tổ chức.
Một tiết mục dự thi tuyên truyền về ATVSLĐ tại Hội thi An toàn - Vệ sinh viên giỏi lần thứ 8-2013 do Vinacomin tổ chức.

Tuy nhiên, đội ngũ ATVSV vẫn chưa đồng đều, nhiều nơi mang tính hình thức, đối phó. Công đoàn nhiều nơi còn lúng túng trong việc tổ chức, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và chỉ đạo hoạt động đối với mạng lưới ATVSV. Mạng lưới ATVSV chỉ được duy trì hoạt động trong các DN lớn, còn nhiều DN ngoài nhà nước, DN có vốn đầu tư nước ngoài, đội ngũ ATVSV rất ít, hoặc không có. Bên cạnh đó, có những nơi tiềm ẩn nguy cơ TNLĐ, nhưng vẫn chưa được quan tâm. Hiểu biết của chủ DN, cán bộ công đoàn và NLĐ còn hạn chế về ATLĐ. Có những nơi do DN gặp khó khăn không có điều kiện quan tâm phát triển đội ngũ này cũng như vấn đề ATLĐ; thậm chí nhiều nơi chưa có công đoàn. Một lý do nữa là, chúng ta chưa có chế độ thoả đáng với đội ngũ ATVSV này.

Nâng chất lượng “phủ sóng” mạng lưới ATVSV

Để đảm bảo an toàn trong lao động, bảo vệ sự an toàn của chính bản thân, của đồng nghiệp và tài sản cho DN, anh Nguyễn Văn Toản, tổ trưởng tổ sản xuất số 1 Phân xưởng Đào lò 3 Công ty Than Dương Huy, cho rằng: “Mỗi tổ, đội sản xuất nên cần thiết có một ATV, người giữ nhiệm vụ này cần có tinh thần trách nhiệm, hiểu biết, tâm huyết, nhiệt tình, gương mẫu trong công tác, thực hiện tốt những quy trình, quy phạm, biện pháp an toàn trong khi làm việc; chủ động tuyên truyền, vận động anh chị em trong tổ thực hiện tốt các quy định AT-BHLĐ, các quy trình, biện pháp làm việc, cũng như các vấn đề về an toàn trong lao động mà công ty, đơn vị đề ra; kiên quyết đấu tranh với những người có hành vi làm bừa, làm ẩu, làm sai, làm tắt quy trình kỹ thuật an toàn trong lao động”.

Ông Trần Danh Chức, Chủ tịch LĐLĐ tỉnh cho rằng: “Bên cạnh việc nâng cao vai trò của các ATV, cần “phủ sóng” và nâng cao chất lượng “phủ sóng” mạng lưới ATVSV trong tất cả các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất, vấn đề đầu tiên là phải hình thành tổ chức Công đoàn trong từng DN. Khi đã có tổ chức Công đoàn rồi thì mới có thể hình thành đội ngũ ATVSV. Để đội ngũ này hoạt động thực chất thì vai trò của Công đoàn là rất quan trọng. Các cấp Công đoàn cần phải tuyên truyền để người sử dụng lao động thấy rõ vai trò của đội ngũ ATVSV. Công đoàn cần tích cực trong công tác tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, đào tạo ATV; tổ chức các hội thi ATV giỏi từ cấp cơ sở; tuyên truyền phổ biến pháp luật về an toàn lao động cho các ATV, NLĐ...”.

Vừa phải làm tròn trách nhiệm của ATV, đội ngũ này vừa phải thực hiện công việc sản xuất; trong khi mức phụ cấp cho các ATV còn chưa tương xứng. Tại ngành Than, ATVSV được hưởng mức phụ cấp khoảng 100.000 đồng. Còn tại các DN khu vực ngoài nhà nước, có ATV được hoặc không được phụ cấp. Theo luật định, NLĐ được quyền từ chối những nơi làm việc có nguy cơ cao về TNLĐ, nhưng hầu như chưa ai sử dụng quyền này. Điều này cho thấy, mạng lưới ATVSV làm việc bằng sự tự nguyện, nhưng trách nhiệm rất cao. Vì vậy, DN cần phải hỗ trợ cho họ, vì chính họ sẽ “đồng hành” cùng sự đi lên của từng DN chứ không phải “cản đường” như một số DN quan niệm lâu nay. Mỗi DN nên có những chế độ, chính sách, phụ cấp phù hợp, hoặc khen thưởng cho các ATV làm tốt để khuyến khích, động viên mạng lưới này hoạt động. Song song với đó, cũng cần có chế tài cụ thể thì đội ngũ ATVSV mới hoạt động thực chất.

Thanh Hằng

,
.
.
.
.
.