.

Y tế học đường: Những cái được và chưa được

Cập nhật lúc 04:53, Thứ Ba, 08/10/2013 (GMT+7)

Y tế học đường có vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho học sinh. Từ năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định đưa công tác y tế học đường là Chương trình mục tiêu Quốc gia. Để đánh giá về công tác này, vừa qua Ban Văn hoá - Xã hội HĐND tỉnh đã tổ chức đợt giám sát tại một số địa phương, trường học để thấy được “bức tranh” về y tế học đường (YTHĐ) trên địa bàn tỉnh.

Đoàn giám sát Ban VHXH (HĐND tỉnh) khảo sát tại Phòng Y tế Trường THCS Đồn Đạc (Ba Chẽ).
Đoàn giám sát Ban VHXH (HĐND tỉnh) khảo sát tại Phòng Y tế Trường THCS Đồn Đạc (Ba Chẽ).

Những kết quả đáng ghi nhận

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ học sinh, thời gian qua tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng YTHĐ. Các ngành thành viên Ban chỉ đạo chương trình YTHĐ tỉnh, đặc biệt là ngành Y tế, ngành Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đã nỗ lực triển khai các hoạt động. Nhờ đó, vào đầu năm học mới, các nhà trường đều xây dựng kế hoạch về công tác y tế; tổ chức truyền thông giáo dục sức khoẻ tới học sinh với nhiều nội dung phong phú. Công tác chăm sóc răng miệng (nha học đường) được quan tâm. Y tế các trường học cơ bản đã xử lý ngay tại chỗ, xử lý sớm các tai nạn như chảy máu, gẫy xương, bong gân, sai khớp, ngất xỉu, ngạt thở, điện giật, bỏng, ngộ độc, dị ứng, đau mắt, đau bụng, đau đầu... cho học sinh; phối hợp cùng gia đình chuyển học sinh lên tuyến trên điều trị kịp thời.

Công tác khám và phân loại sức khoẻ cho học sinh được chú trọng. Các trường học trong tỉnh đã phối hợp với các trạm y tế xã, phường và trung tâm y tế huyện tổ chức khám sức khoẻ và phân loại sức khoẻ cho học sinh, phát hiện đưa vào diện quản lý các bệnh cong vẹo cột sống, tim mạch, rối loạn tâm thần, suy dinh dưỡng... Tất cả trường học trong toàn tỉnh đã thực hiện lập sổ quản lý sức khoẻ học sinh theo mẫu chung do Sở GD-ĐT quy định.

Bên cạnh đó, các trường còn quan tâm thực hiện công tác vệ sinh học đường, vệ sinh an toàn thực phẩm theo các quy định của Bộ Y tế và Bộ GD-ĐT. Các trường tiểu học, mầm non có bếp ăn bán trú đều được quan tâm về cơ sở vật chất, quản lý bếp ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nên không có những vụ ngộ độc lớn xảy ra.

Nhìn chung, công tác YTHĐ của tỉnh đã được triển khai từ nhiều năm nên các hoạt động đã cơ bản đi vào nề nếp. Diện bao phủ công tác YTHĐ rộng trên quy mô toàn tỉnh. Tính đến hết năm 2012, toàn tỉnh có 607/648 trường học có cán bộ làm công tác YTHĐ (trong đó có 440 cán bộ chuyên trách trong biên chế nhà trường; 113 cán bộ hợp đồng; 50 cán bộ kiêm nhiệm). Toàn tỉnh có 515/648 trường học có phòng y tế đảm bảo theo quy định của Bộ GD-ĐT, chiếm tỷ lệ 79,5%. Tỷ lệ học sinh tham gia bảo hiểm y tế tăng dần qua từng năm, đến năm 2012 đạt 87%.

Trăn trở với những hạn chế, khó khăn

Mặc dù công tác y tế học đường được quan tâm và triển khai trong suốt thời gian qua, nhưng do còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực nên y tế học đường nhiều nơi còn kém hiệu quả, đặc biệt là trường học ở vùng miền núi, biên giới, hải đảo.

Cán bộ y tế vừa thiếu về số lượng, vừa chưa chuẩn chuyên môn. Theo Thông tư Liên tịch số 35/2006 giữa Bộ GD-ĐT, Bộ Nội vụ thì mỗi trường đều có một biên chế cho YTHĐ nhưng đến nay vẫn còn 45 trường chưa có cán bộ y tế. Mặt khác, theo quy định của Bộ GD-ĐT (được ban hành theo Quyết định số 73/2007) thì trình độ cán bộ làm công tác YTHĐ phải có trình độ y sĩ trở lên. Trên thực tế, do khó khăn trong công tác tuyển dụng nên dù 93,67% trường học đã có cán bộ y tế nhưng trình độ chuyên môn của cán bộ y tế còn hạn chế vì không trường nào có bác sĩ, chỉ có 135 y sĩ, số còn lại là y tá, dược tá, điều dưỡng, nữ hộ sinh. Thậm chí có 54 trường bố trí cán bộ công tác tại lĩnh vực kế toán, văn thư, thủ quỹ... kiêm nhiệm thêm công tác YTHĐ. Chính vì vậy, cán bộ y tế trường học còn lúng túng trong triển khai nhiệm vụ và chưa làm tốt việc tham mưu cho lãnh đạo nhà trường trong công tác này.

Đoàn giám sát khi về khảo sát tại Trường THCS Thống Nhất (Hoành Bồ) hỏi cán bộ y tế về các “vật tư y tế tiêu hao” là những loại gì thì cán bộ y tế lắc đầu không biết; khảo sát tại Trường THCS Đồn Đạc (Ba Chẽ) hỏi cán bộ y tế về danh mục thuốc được quy định như thế nào thì được trả lời là không biết và mua thuốc theo kinh nghiệm. Lý giải thực trạng không tuyển được cán bộ đúng chuyên môn, nhiều nhà trường cho rằng: Trước hết là do mức lương và mức phụ cấp của nhân viên y tế so với công chức, viên chức còn quá thấp nên chưa đủ sức hút đối với sinh viên mới ra trường. 

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác YTHĐ, hiện tại có 133 trường chưa bố trí riêng phòng y tế mà sử dụng ghép với phòng chức năng khác. Nhìn chung, ở các trường mặc dù có trang bị tủ thuốc nhưng hầu hết số lượng thuốc chưa đủ theo danh mục thuốc thiết yếu dùng trong phòng y tế học đường. Công tác thường trực (24/24 giờ theo quy định) của cán bộ YTHĐ đối với trường nội trú, bán trú chưa được đảm bảo. Trang thiết bị phục vụ cho công tác YTHĐ tại một số trường đã sử dụng nhiều năm chưa được thay thế nên cũ, hỏng nhiều.

Mặc dù, việc khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh đã được quan tâm nhưng chất lượng khám chưa cao do trình độ chuyên môn của cán bộ tham gia khám còn hạn chế (thiếu các bác sĩ chuyên khoa mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng...), thậm chí nhiều trường còn hợp đồng với Trạm y tế trên địa bàn đến khám nên chất lượng chưa đảm bảo. Do vậy học sinh chưa được điều trị đúng bệnh, số liệu phản ánh về tình hình sức khoẻ học sinh cũng không đúng thực tế.

Kinh phí triển khai các hoạt động YTHĐ chủ yếu từ nguồn mục tiêu quốc gia và nguồn quỹ bảo hiểm y tế học sinh trích lại cho các trường (năm học 2012- 2013 toàn tỉnh là 4,57 tỷ đồng), kinh phí của các huyện, thị xã, thành phố cũng như các xã, phường, thị trấn hỗ trợ còn ít, nhiều nơi không có kinh phí cho công tác này. Do đó, việc bố trí kinh phí cho công tác YTHĐ gặp không ít khó khăn.

Bên cạnh đó, do yếu tố đặc thù, một số trường mầm non, tiểu học ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biển đảo thường có rất nhiều điểm trường. Các điểm trường này nằm cách xa nhau và bị chia cắt bởi địa hình đồi núi, sông, suối... Thế nhưng, mỗi trường học ở nơi như thế cũng chỉ có 1 cán bộ làm công tác YTHĐ. Nếu cán bộ ấy có tích cực đi 1 ngày 1 điểm trường để kiểm tra, thăm, khám, tuyên truyền thì phải mất gần chục ngày mới được một vòng. Tại các trường mà Đoàn giám sát đến làm việc thì được cán bộ y tế báo cáo là chỉ trực hàng ngày tại điểm trường chính còn ở các phân hiệu thì gần như không có hoạt động YTHĐ.

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác YTHĐ, thời gian tới các địa phương cũng như ngành GD-ĐT cần bố trí đủ phòng y tế và tiếp tục tuyển dụng cán bộ y tế cho các trường, có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ YTHĐ nhằm lấp dần khoảng trống về trình độ đội ngũ cán bộ y tế. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho cán bộ YTHĐ, đặc biệt là thu hút bác sĩ về làm công tác này. Bên cạnh đó cần bố trí nguồn kinh phí hợp lý cho công tác YTHĐ, bao gồm cả kinh phí của cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã cho công tác này; chỉ đạo các trường sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí trích lại từ bảo hiểm y tế học sinh.

Châu Hoài Thu (CTV)

,
.
.
.
.
.