.

Thực hiện thoả ước lao động tập thể: Còn nặng tính hình thức

Cập nhật lúc 04:29, Thứ Tư, 27/03/2013 (GMT+7)

Thoả ước lao động tập thể (TƯLĐTT) là văn bản thoả thuận đối với các bên tham gia vào quan hệ lao động. Việc xây dựng TƯLĐTT là một việc làm cần thiết để CĐCS trong doanh nghiệp (DN) thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng cho người lao động (NLĐ), để giám đốc DN có cơ sở làm tốt nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện chế độ chính sách đối với NLĐ. Đây là một trong những yếu tố cơ bản để xây dựng mối quan hệ hài hoà, ổn định, tiến bộ trong DN. Tuy nhiên, theo đánh giá của LĐLĐ tỉnh, việc xây dựng và ký kết TƯLĐTT hiện nay mới chỉ được duy trì và có nền nếp tại các DN nhà nước, DN nhà nước sau khi cổ phần hoá, còn các doanh nghiệp NQD, doanh nghiệp FDI chưa thực sự quan tâm thực hiện quy định này.

Lễ công bố quyết định thành lập 8 CĐCS và ký kết TƯLĐTT của 8 DN ngoài nhà nước tại TP Hạ Long, tháng 1-2013.
Lễ công bố quyết định thành lập 8 CĐCS và ký kết TƯLĐTT của 8 DN ngoài nhà nước tại TP Hạ Long, tháng 1-2013.

Một số DN xây dựng quy chế, nội quy, TƯLĐTT còn mang tính hình thức, nội dung sơ sài, chung chung, chủ yếu ghi lại các nội dung của Bộ luật Lao động hoặc dùng nguyên văn nội dung của TƯLĐTT cũ áp dụng cho các năm sau; không được cụ thể hoá, chưa có nhiều điều khoản có lợi hơn cho NLĐ so với pháp luật. Việc tiến hành kiểm điểm, đánh giá định kỳ thực hiện các nội dung của TƯLĐTT cũng còn những hạn chế, như: Chưa thực hiện 6 tháng một lần hai bên tổ chức kiểm điểm, đánh giá TƯLĐTT hoặc có nhưng không được ghi thành biên bản, không có kết luận mà giao cho một số người có trách nhiệm nghiên cứu, tập hợp các nội dung bổ sung sửa đổi, trình trước Đại hội CNVC hoặc Hội nghị CNLĐ hàng năm; thậm chí có DN hàng năm không tiến hành đánh giá kết quả thực hiện, điều đó thể hiện TƯLĐTT chưa được mọi người quan tâm, mang tính hình thức, không mang lại tác dụng đích thực của TƯLĐTT. Nhiều vi phạm pháp luật vẫn diễn ra tại DN mặc dù nội dung TƯLĐTT có quy định theo pháp luật như: Chính sách về BHXH, BHYT; khám sức khoẻ định kỳ; CNLĐ làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại chưa được khám sức khoẻ thêm 1 lần trong năm; không thực hiện chi nghỉ dưỡng sức và một số chính sách đối với lao động nữ... nhưng không được xử lý. Vẫn còn 25% DN ký kết TƯLĐTT nhưng không đăng ký, một số TƯLĐTT có sửa đổi, bổ sung nhưng cũng không đăng ký lại. Nhiều đơn vị TƯLĐTT đã hết hạn nhưng không tổ chức ký kết và đăng ký lại, việc DN báo cáo cấp trên còn chậm.

Nguyên nhân chủ yếu là do về phía chủ DN chưa thấy hết tác dụng của việc thực hiện TƯLĐTT trong việc quản lý, điều hành, cho rằng, mọi xử sự trong DN theo luật, theo hợp đồng lao động là đủ. Một số DN do điều kiện SXKD có khó khăn, không ổn định, nhận thức của người sử dụng lao động hạn chế về pháp luật, nên lo ngại khi tổ chức thực hiện quy chế dân chủ và TƯLĐTT tốn kém, mất thời gian, là rào cản, sự ràng buộc đối với người sử dụng lao động, nên  không thực hiện. Còn về phía tổ chức công đoàn cũng chưa chủ động trong việc đặt ra yêu cầu đối với phía người sử dụng lao động, chưa chủ động chuẩn bị nội dung và bàn bạc với người sử dụng lao động để tổ chức thực hiện; chưa có phương pháp, hình thức đôn đốc, vận động, thuyết phục người sử dụng lao động thấy rõ tác dụng của việc thực hiện quy chế dân chủ và TƯLĐTT trong việc điều hành quản lý DN; BCH CĐCS chưa có đủ vị thế ngang tầm với nhiệm vụ...

Thời gian qua, với sự vào cuộc tích cực của các cấp công đoàn, việc thực hiện bản TƯLĐTT ở nhiều DN, đặc biệt ở các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh đã có nhiều kết quả khả quan. Điển hình như  Công ty TNHH Everbest Việt Nam, Công ty Sản xuất nến cao cấp AIDI Việt Nam, Công ty TNHH Sợi hoá học thế kỷ mới, Công ty TNHH Công nghiệp Young Sun Wolfram Việt Nam... và nhiều DN tư nhân đã xây dựng được bản TƯLĐTT với những điều khoản có lợi hơn cho NLĐ so với quy định của Bộ luật Lao động. Nhiều bản TƯLĐTT đã thực sự mang lại lợi ích cho công nhân. Chất lượng và nội dung các bản thoả thuận được nâng cao, tính hình thức của các bản thoả ước giảm dần. Nhiều DN đã dành nhiều ưu đãi cho NLĐ như hỗ trợ đào tạo nghề, cho công nhân vay vốn không tính lãi, xây dựng nhà trẻ, tăng thời gian nghỉ ngơi cho lao động nữ mang thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, trả thêm tháng lương thứ 13... Qua thương lượng ký kết và thực hiện TƯLĐTT, quyền dân chủ, ý thức trách nhiệm, tính tổ chức, kỷ luật của NLĐ ngày càng được nâng cao, tạo mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ trong DN.

Tuy nhiên, theo các cán bộ công đoàn, để TƯLĐTT không còn mang tính hình thức, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, pháp luật lao động, Luật Công đoàn... trong CNVC-LĐ, tập trung vào NLĐ trong các DN dân doanh, doanh nghiệp FDI  và công nhân trẻ. Bên cạnh đó, các cấp, ngành chức năng cần kiên quyết xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật lao động; Tổng LĐLĐ Việt Nam nên đề nghị Nhà nước sớm “Luật hoá” thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở các loại hình DN...

Hiện, LĐLĐ tỉnh đang triển khai thực hiện đề tài khoa học xã hội: “Giải pháp nâng cao chất lượng, ký kết và thực hiện TƯLĐTT tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng bản thoả ước, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho NLĐ; xây dựng mối quan hệ hài hoà, ổn định, tiến bộ trong DN.

Thanh  Hằng

,
.
.
.
.
.