Phường nhạc cho người thiên cổ

Chủ Nhật, 22/07/2012, 03:55 [GMT+7]
.
.

Về viếng một đám tang ở làng tôi, đêm nghỉ lại nhà tôi, một anh bạn giãi bày: Thú thực với ông, đêm qua nằm nghe tiếng kèn đám tang vọng như rót vào tai, đâm khó ngủ quá. Vùng Hà Nam quê ông quả thật tiếng kèn rất có hồn, như mang một niềm tâm sự rất riêng, khiến tôi khó cầm lòng được, cứ nghĩ xa nghĩ gần, ngậm ngùi, thương xót cho một phận người vừa rời khỏi dương gian...

“Đúng vậy! Từ xưa đến nay, dân gian quê tôi ngày càng coi trọng tiếng kèn trong tang lễ. Khi có người về cõi thiên cổ, dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, đều cho mời thợ kèn đến như một tục lệ không thể thiếu để thờ phụng và cử hành tang lễ. Tiếng kèn không chỉ là nỗi buồn thương người đã khuất, mà còn mang tính giáo dục con cháu...” - Tôi nói với bạn.

Theo các bậc cao tuổi kể lại thì lệ thổi kèn cho người chết ở quê tôi có từ thời Hậu Lê, khi đảo Hà Nam hình thành những thôn ấp đầu tiên trên vùng đất bãi triều cửa sông Bạch Đằng, trấn An Bang xưa. Tuy là phường nhạc dân gian, nhưng âm hưởng của nó phảng phất âm hưởng của những khúc nhạc cung đình, vì tổ tiên các cư dân vùng quê này đã ra đi khai cương lập ấp từ kinh thành Thăng Long khi nhà vua mở rộng kinh thành. Với tâm thức mang theo văn hoá, nhạc lễ kinh thành, những cư dân lớp đầu tiên thâm ý gợi nhớ, nhắc nhở người hậu thế sống xa nguồn gốc chớ quên nơi chôn rau cắt rốn. Thêm nữa, tiếng kèn cũng là để đưa linh hồn người chết được thanh thản về cõi cực lạc sau khi ở cõi thế họ từng phải làm lụng cực nhọc, lo toan, vui buồn, đau đớn, mất mát... Dân gian ở đây thường nói: “Sống dầu đèn, chết kèn trống”, coi đó là một nhu cầu của cuộc đời mỗi con người. Cho đến bây giờ, cũng là tiếng kèn đám ma, nhưng tiếng kèn đám ma ở Hà Nam mang giai điệu rất riêng, nghe như xói, như bào vào lòng người, không giống tiếng kèn ở các nơi khác. Người Hà Nam rất tự hào về tiếng kèn đám ma ở quê mình. Dù ở đâu chỉ cần đi qua nghe thấy là người ta đã nhận ra tiếng kèn quen thuộc và biết đấy là người Hà Nam, là thợ kèn Hà Nam hay không! Và thổi kèn đám tang đã thành một nghề có thể kiếm sống và những người thổi kèn có thể yên tâm làm ăn bằng nghề của mình...

Một đội nhạc phục vụ tang lễ ở Hà Nam (TX Quảng Yên).
Một đội nhạc phục vụ tang lễ ở Hà Nam (TX Quảng Yên).

Nghề thổi kèn ở Hà Nam (thị xã Quảng Yên) đầu tiên xuất hiện từ làng Phong Lưu cổ, nay là phường Phong Cốc. Qua các thời đại, phường Phong Cốc cũng là địa phương có nhiều người làm nghề này. Cư dân ở đây vẫn không quên tiếng kèn xưa của các ông tổ, các gia sư như cụ Trùm Do, cụ Nghệ Kỳ, cụ Thủ Tuỳ, ông Vệ Thìn... Sau này người ta nhắc tới tiếng kèn của các phường ông Lê Nhâm (Phong Hải), ông Chu (Liên Hoà), ông Khôi, ông Bùi (Hải Yến), ông Cầu (Phong Cốc); lớp trẻ có hai anh em nhà Nam - Bắc (Nam Hoà), bố con nhà Trung Ky (Phong Cốc)... Trước đây chỉ có cây kèn loe như kiểu kèn tàu, lấy chiếc tổ sâu khô hoặc cắt ống sậy nhỏ làm dăm kèn, thổi phát ra âm tồ tí te te tí tồ, cùng chiếc trống con gõ đệm và tiếng mõ giữ nhịp. Nay đưa thêm vào nhị, hồ, sáo, thanh la, trống cơm gõ bập bùng và cả đàn bầu thánh thót giọt ngắn giọt dài, khiến dàn nhạc tang lễ càng phong phú âm thanh. Trước đây, chỉ có người mù hoặc người tàn tật làm nghề thổi kèn. Nghề này đã giúp họ có chút việc làm, bớt nỗi cô đơn, mặc cảm dư thừa; cho họ niềm vui góp thêm thu nhập với gia đình. Thực tế đã có không ít người mù nuôi được vợ con bằng chính cái nghề mà người đời từng có kẻ xấu miệng cho là mạt hạng này! Ông Ngô Doãn Cầu, một người mù, nhóm trưởng một phường nhạc có hạng ở Phong Cốc, tâm sự:

- Nghề nào thì cũng vất vả. Nhưng cái nghề thổi kèn của chúng tôi cũng không ít nhiêu khê. Vào đám, cứ phải ra rả, triền miên như con ve sầu. Nào thổi khi khâm liệm, phát tang, khi phúng viếng túc trực cả đêm; nào thổi khi cử hành an táng và tế lễ. Nhiều đám, nghĩa trang ở xa phải thổi diễu bộ từ một đến hai, ba cây số. Xong việc mệt mỏi rã rời, ăn chẳng biết ngon, mặc dù nhà hiếu có ưu ái “một mình một cỗ sướng như thợ kèn” như người đời thường ví von. Ông Cầu thở dài: Chẳng qua cũng vì cuộc sống, vì miếng cơm manh áo, vì cảnh ngộ mà mình phải đeo đuổi, lao đao với nghề. Chả lẽ người mù chúng tôi sinh ra đã thiệt thòi bệnh tật lại còn bị chết buồn nơi xó nhà?...

Ông còn kể với tôi về bao nỗi niềm kiếm sống, cực nhọc. Thoạt tưởng nhàn nhã, nhưng vào nghề mới thấy chẳng nhàn nhã chút nào. Phải kiên nhẫn luyện tập, phải hao tổn sức lực, thâu đêm suốt sáng phồng má trợn mắt lấy hơi để thổi, để tạo nên những khúc nhạc ngẫu hứng đầy bi thương, sầu thảm khóc thay cho tang chủ, cho thân nhân người quá cố. Sau chuỗi ngày đêm hao tâm tổn lực, mặt mũi ai cũng bơ phờ, hốc hác, da dẻ mai mái xanh như tàu lá chuối. Nhận được việc, gần hay xa, mưa to hay gió bão, rét chết cò, thầy tớ cũng phải “khăn gói quả mướp” lặn lội mà đi, không dám để nhỡ. Để nhỡ là tự mình triệt chỗ làm ăn! Gặp những nhà tử tế, quý người, họ ứng xử nhẹ nhàng... còn thấy vinh dự, cầm đồng tiền của họ dù ít dù nhiều cũng mát mặt. Gặp phải nhà cậy thế, cậy của, nó hạch sách vặn vẹo, nghĩ cứ tức anh ách, ngậm bồ hòn làm ngọt. Rồi cả những nỗi nhục từng gặp kẻ “qua sông đù mẹ sóng”, “ăn cháo đá bát”. Nhà giàu nứt đố đổ vách, kiều nội, kiều ngoại hẳn hoi mà nó chê bai, bớt xén từng cắc của người lao động mù. Sự đời nhiều người tốt dễ cảm thông chia sẻ, nhưng cũng đâu hiếm kẻ ti tiện. Giọng ông bỗng sôi nổi:

- Nhưng cũng lạ thay! Cứ nâng cái kèn là nổi máu nghề nghiệp, hồi trống thúc lên là lòng lại phấn chấn, đam mê, dồn hết tâm lực vào tiếng kèn sao cho rõ hay, sao cho réo rắt... những mong cho cả người chết cũng được hài lòng, siêu thoát. Nhất là thổi cho đám chết trẻ, những nạn nhân nghiện ngập, HIV, những nạn nhân tự tử hồng nhan bạc mệnh... nghĩ vừa xót thương vừa ghê ghê...

- Phải vậy mà mọi người tỏ ra rất thán phục ông về nghệ thuật ca kèn...?  

- Tôi cũng chẳng biết nữa. Tình người với người trước đồng loại nó kỳ lạ lắm ông ạ! Nghĩ người lại nghĩ đến mình. Thiên hạ mỗi người một cảnh ngộ. Ca kèn, tức là bài khóc bằng kèn, như bản nhạc không lời ấy, là cả một nghệ thuật. Giờ “ca kèn” là giờ mình hoá thân vào nỗi thương đau. Vừa phải ứng khẩu những câu khóc bằng văn vần thảm thiết, mùi mẫn đúng với tâm trạng người đặt ca, vừa dồn hơi nấc lên như tiếng khóc nức nở... Ca cho họ khóc, khóc thay cho họ mà mình cũng nghẹn sững cả cổ, dàn dụa nước mắt. Lúc ấy quên hẳn mình là kẻ thổi kèn khóc thuê!

- Nhưng hình như đấy cũng là những giờ được tăng thu nhập?

- Vâng! Ca hay, khóc hay thì họ thưởng nhiều. Tăng thu nhập của chúng tôi thường nhờ vào những lúc này. Như thể con tằm, phải rút hết ruột mình ra mới được tơ vàng...

- Rõ ràng tiếng kèn đám ma là một thế giới âm thanh đầy tình cảm? Tôi khẳng định với ông.

- Vâng! Nó cũng như ca khúc dành cho người sống! Rồi ông hạ giọng, khiêm tốn: Nhưng, về nghệ thuật ca kèn chúng tôi vẫn thua cụ Vệ Thìn! Rất tiếc cụ đã mất cách đây hai chục năm. Người mất tiếng còn. Ông có muốn nghe giọng của cụ không? Ông lập cập mở tủ lấy ra một chiếc đĩa: May mà hồi đó tôi sắm được cái máy ghi âm và đã ghi lén được giọng ca kèn của cụ. Nay tôi vẫn giữ lại được và nhờ cháu đem chuyển thành CD đây. Ông mở đầu đĩa giúp tôi.

Giọng ca buồn thảm tiếc thương láy trong tiếng kèn nức nở vang lên lúc trầm lúc bổng từ đôi loa thùng mà cứ như từ xa thẳm đâu đó không gian. Người mất tiếng còn. Quả thật nghe rất mủi lòng. Chao ôi! Tiếng kèn này đã từng nuôi cả một gia đình đông con vượt qua những canh dài đói kém...

Thời kỳ bao cấp những năm thập kỉ 70, HTX còn lo cho xã viên, có đám tang trong làng xã, thợ kèn chỉ việc đến phục vụ; xong rồi cuối vụ thanh toán nửa tiền, nửa thóc. Lúc ấy thợ kèn còn được độc tôn, nhưng phải chạy đám như đèn cù... Cuộc sống ngày càng phát triển, cơ chế thị trường bung ra. Thổi kèn đám ma không còn là kế mưu sinh của riêng người mù, người khuyết tật nữa. Người sáng, thanh niên trai trẻ cũng tìm cách học, rồi lập nhóm, lập phường, đầu tư nhạc cụ, loa máy, trang phục để hành nghề. Ông Cầu bỗng than thở buồn bã:

- Lâu nay nhóm chúng tôi cũng ít việc làm. Xã hội phát triển, đến nghề thợ kèn ngày xưa bị coi như mạt hạng, nay cũng nhiều thành phần lao vào. Người sáng bây giờ cũng tranh nghề với người mù!

Cả vùng Hà Nam hiện có tới chục đội kèn đám ma. Trong số đó chỉ có ba, bốn đội là người mù và con em người mù theo nghề. Tất nhiên diễn ra cuộc chạy đua nâng cao chất lượng phục vụ và giá cả khuyến mại. Mỗi đội kèn thường tập hợp từ 4-5 người vừa chuyên nghệ, thuộc việc vừa để thay thế nhau nghỉ hơi chút ít. Đồng thời cũng xuất hiện luôn cả một loại “cò” tiếp thị và giành việc cho các đội kèn! Không chỉ phục vụ các xã, phường trong thị xã, nhiều nhóm còn được xe đưa xe đón sang cả Hải Phòng, tới cả Bắc Giang, Hà Nội... Một số đội kèn còn liên kết, ký hợp đồng dài hạn với các xã, “bao” tất cả các đám tang, gây riêng lãnh địa của mình... Phải dịp trong làng xảy hai, ba đám tang, họ mới nhặt nhau lại để phân chia công việc. Thu nhập bây giờ cũng được ba, bốn triệu đồng một đám. Qua hai ngày đêm cật lực phục vụ, mỗi thành viên trong đội cũng đạt 300.000-400.000 đồng; thợ cả (thường phải thổi kèn chính) được chia cao hơn. Tất nhiên cũng tuỳ từng gia cảnh “giàu kép hẹp đơn” mà các đội kèn “phát giá”. Gia đình tang chủ nào khó khăn “ít tóc” thì họ “góp phần ủng hộ là chính”, chỉ gọi là “lấy tiền đổ xăng đi lại”. Còn gặp các gia chủ “đại gia” họ cũng không ngần ngại chiều lòng, “vẽ bụt thêm râu” gợi việc, gợi thêm công đoạn như “dẫn chương trình, thổi kèn đôi, đi “nhị huyền bát âm”; các bậc thượng thọ tám mươi thì rước bộ bát biểu, đưa đoàn đánh nhạc xênh tiền, kèn đồng, trống cà rình vào cử hành tang lễ v.v.. Và tất nhiên, đi cùng với đó là tiền công tăng lên... Cơ chế thị trường thuận mua vừa bán mà! Mỗi đám tang thường thường, phục vụ xong, riêng phường nhạc cũng được trên dưới bốn, năm triệu đồng, đám nào sộp, có khi được đến chục triệu đồng. Trong dân gian, việc tang lễ, ít ai lại mặc cả, bớt xén tiền công của thợ kèn!

Anh Dùng ở xóm tôi vừa đạp xích lô vừa hợp đồng gõ trống theo các phường nhạc đám ma. Chạy việc rất vất vả anh mới kiếm thêm được đồng ra đồng vào để lo cho ba đứa con đang ăn học. Dùng khoe với tôi:

- Dạo này chúng cháu phải “chạy sô” liên khúc. Ra thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, Mông Dương, ra cả Móng Cái... Ngoài đó họ chuộng kèn Hà Nam lắm! Làm ngoài phố cũng hơn ở quê nhiều, trừ tiền tàu xe mỗi người cũng được kha khá. Có việc là tốt rồi ông ạ!

Tôi nghe có người còn hóm ý trêu bỡn phường nhạc: “-Thợ kèn chỉ mong nhiều người chết để có việc làm”...

- Sao họ lại nghĩ vậy? Đố ai chống lại quy luật đời người, chống lại cái chết! Và cũng đố nhà ai có đám mà không mời phường kèn! Có mà “đám ma bị” ngày xưa!...

“Sinh ký tử quy”, cuộc đời còn vận động trong thế gian này thì người người còn phải theo nhau về cõi vĩnh hằng, cho lớp lớp người khác thay thế, sinh tồn. Do vậy nghề thổi kèn đám tang vẫn là một nghề tồn tại, vẫn là một nghề nhân đạo, một nét đẹp trong văn hoá dân gian ở quê tôi và các nơi. Họ đã từng góp phần tạo công ăn việc làm cho chính họ. Và cũng bao người khuyết tật, bao người bình thường có cái nghề trong tay. Qua tiếng kèn dành khóc người chết ai oán, sầu muộn, người sống cũng thấm lòng mà thay đổi ứng xử, sẽ sống với nhau tốt hơn, nhân thiện hơn. Tiếng kèn tang lễ làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa. Người dân quê tôi vẫn luôn quý trọng những người thợ kèn - Gọi đấy là phường nhạc dành cho người Thiên cổ...

Dương Phượng Toại

.
.
.
.
.
.
.
.