.

Hiệu quả từ Chương trình 134

Cập nhật lúc 01:13, Thứ Tư, 08/02/2012 (GMT+7)

Ở những xã vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh, do địa hình cao nên việc đào giếng khó khăn, thêm vào đó, điều kiện kinh tế của bà con còn hạn chế nên rất hiếm gia đình tự xây bể chứa nước mưa, bởi vậy, nước sinh hoạt nơi đây phần lớn phụ thuộc vào việc bà con đi gánh nước hoặc tự bắc các ống tre dẫn nước từ sông, suối về dùng. Cùng với chương trình nước sạch nông thôn của tỉnh, Chương trình hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Chương trình 134) đã giúp bà con có được nguồn nước sạch sinh hoạt.

Xã Phong Dụ (Tiên Yên) có 18 thôn với hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 89%. Tính đến hết năm 2011, mới chỉ 3 thôn của xã có nước sạch sinh hoạt. Các thôn còn lại, để có nước, bà con phải gánh từ sông, suối, gia đình nào khá hơn thì bắc ống dẫn từ khe suối về dùng. Chính bởi vậy, khi cuối năm 2011, xã được đầu tư thêm công trình nước sạch ở một số thôn theo Chương trình 134, bà con nơi đây hồ hởi hiến đất để làm bể chứa nước chung hoặc làm đường ống dẫn nước. Theo bà con, Chương trình 134 giúp nhiều gia đình dân tộc nơi đây thay đổi tư duy sinh hoạt, lối sống hợp vệ sinh hơn. Không chỉ với xã Phong Dụ, từ khi được triển khai (năm 2004) đến nay, Chương trình 134 đã giúp rất nhiều thôn, bản vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh có nước sạch sinh hoạt sử dụng.

Đoàn công tác của tỉnh kiểm tra chất lượng công trình nước sạch sinh hoạt đầu tư theo Chương trình 134 tại xã Phong Dụ (Tiên Yên).
Đoàn công tác của tỉnh kiểm tra chất lượng công trình nước sạch sinh hoạt đầu tư theo Chương trình 134 tại xã Phong Dụ (Tiên Yên).

Để thực hiện chương trình được tốt, hàng năm, các địa phương đã chỉ đạo các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tổ chức bình xét để lựa chọn đầu tư công trình nước sạch cho những hộ gia đình hoặc cụm dân cư gặp khó khăn nhất về nước sinh hoạt. Trên cơ sở này, các huyện, thị xã, thành phố đã chủ động phân khai, tổ chức khảo sát, thiết kế, lập dự toán các công trình, đồng thời có kế hoạch lồng ghép các nguồn vốn đầu tư khác trên địa bàn để đảm bảo tính hiệu quả, bền vững của công trình. Giai đoạn 2005-2008, tổng số vốn đầu tư hỗ trợ nước sinh hoạt tập trung theo Chương trình 134 trên địa bàn tỉnh hơn 19 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh đầu tư trên 2,1 tỷ đồng. Nhờ đó, đã có khoảng 730 công trình nước sạch được đầu tư, giúp gần 4.500 hộ đồng bào dân tộc được thụ hưởng.

Đến năm 2011, Trung ương và tỉnh tiếp tục bố trí vốn đầu tư cho việc xây dựng 11 công trình nước sạch sinh hoạt theo Chương trình 134 với tổng kinh phí hơn 10,15 tỷ đồng cho một số thôn thuộc 8 xã: Hải Sơn, Quảng Sơn, Vô Ngại, Lục Hồn, Quảng Lâm, Điền Xá, Lương Mông, Đồng Lâm. Việc triển khai, giám sát các công trình nước sạch sinh hoạt theo Chương trình 134 đều có sự tham gia của UBND cấp xã và cộng đồng dân cư thuộc đối tượng thụ hưởng nên quá trình triển khai thi công đã được nhân dân địa phương ủng hộ nhiệt tình. Chương trình không chỉ giúp bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số có nước sạch sinh hoạt, mà còn giúp bà con thay đổi tư duy, có thói quen sinh hoạt hợp vệ sinh hơn, thậm chí còn góp phần khắc phục sự trông chờ, ỷ lại của nhiều hộ dân vùng dân tộc. Thực tế, đã có nhiều hộ tự đầu tư mua đường ống để dẫn nước từ các khe núi về sử dụng.

Chương trình 134 đã góp phần đáng kể giúp tỉnh thực hiện thành công chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn. Tính đến nay, toàn tỉnh có hơn 2.900 công trình cấp nước được hỗ trợ từ ngân sách, trong đó có ngân sách cấp cho Chương trình 134. Nhờ vậy, đến hết năm 2011, 86% dân số nông thôn của tỉnh đã có nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

Cầm Khuê

,
.
.
.
.
.