Đọc sách

"Nỗi niềm" day dứt trong thơ của Mai Tấn

Chủ Nhật, 23/04/2017, 01:21 [GMT+7]
.
.

Bạn đọc Vùng mỏ đã quen thuộc với tác giả Mai Tấn bởi anh trưởng thành từ mỏ than Cao Sơn rồi về làm Phó Chủ tịch Công đoàn ngành Than - Khoáng sản Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu. Anh yêu thơ và làm thơ từ lâu rồi, nhưng có vẻ như là tác giả làm thơ để giãi bày tự sự để cân bằng giữa cuộc sống và công việc.

“Nỗi niềm” (NXB Hội nhà văn, 2016) là tập thơ thứ tư trong gia tài văn học của anh. Có lẽ cả đời gắn bó với vùng than biển Quảng Ninh nên thơ Mai Tấn chất chứa nhiều cung bậc cảm xúc về vùng đất mà tác giả đã gắn bó. Sau một thời gian rất xa, từ tập đầu tiên “Nước mắt chảy về đâu” (NXB Văn hoá dân tộc, 1995) anh mới cho in tập “Nỗi niềm”. Với khoảng thời gian rất xa đó, Mai Tấn đã nén những cảm xúc qua tháng năm chiêm nghiệm cuộc đời để cho ra mắt độc giả với nhiều cung bậc tình cảm, nhân tình, thế thái đa thanh, đa sắc.

Trong mạch cảm xúc của anh, tôi rất ấn tượng mạch viết theo thể lục bát, khá nhuần nhuyễn như anh viết trong bài “Tháng Ba”: “Tháng ba bổi hổi đến nhiều/Nàng Bân đan rét vào chiều tương tư...”, hoặc ở bài “Lạy trời” anh viết:  “... Nắng mưa gió trộn với đời/ Tuổi xuân mẹ gửi vào lời hát ru...” . Theo tôi đó là những câu lục bát khá nhuyễn của Mai Tấn.

Rồi cảm xúc viết về mẹ, trong tập thơ mới này anh có ít nhất ba bài viết về mẹ với niềm yêu kính tha thiết như không muốn ngưng. Bên cạnh những bài anh dành tặng bạn bè, tặng người yêu cũ, tặng những miền đất anh qua với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau thì tôi thật sự ấn tượng về một nỗi niềm nhân thế qua thơ anh.

Hãy nghe nhà thơ nói về nhân tình thế thái trong bài “Khó nhận ra nhau”: “Trên bàn tiệc khó nhận ra nhau/ Lòng tốt hoà vào men rượu.../Còn mảng trời xanh phía bên ngoài cửa sổ/ Cũng thả vào chén rượu đầy vơi...” Một thoáng thôi, nhưng cũng nhận diện được cuộc sống với những khoảnh khắc không thật mà cứ tưởng là thật ấy, nhà thơ day dứt về thế sự bằng một cách nhận diện rất riêng như thế. Nỗi niềm thế được tác giả thể hiện ở mọi trạng huống khác nhau, ấy là một chiều chị gái nhà quê lên thành phố thăm em. Ấy là tâm trạng thương cảm của người em trai với người chị gái khi ra thành phố để mỗi ai đọc đều cảm thấy quặn thắt tâm can. Đó là khi xã hội đang bị phá vỡ những giá trị đạo đức đã có từ trước do đồng tiền, do thói đời của kẻ phố, người quê và đó là tiếng chuông báo động về đạo đức xã hội đang bị đe doạ từ những thói hợm hĩnh, giàu khinh nghèo. Cũng tâm trạng ấy tác giả lại mang đầy nỗi trắc ẩn về một người cậu với cái tình người chân thật đã mất khi vàng son đầy nhà: “Cái thời vách nứa, rèm thưa/Tình người trên cả gió mưa tình người/Vàng nhiều chi lắm cậu ơi/Chết mang phận bạc như vôi xuống mồ”.

Hoặc cùng một tâm trạng ở trường hợp khác, Mai Tấn chợt nhận ra: “Ta tự trách mình chẳng trách ai/ Đường đời bao khúc khuỷu chông gai/ Nhân tình thế thái như dòng nước/ Bạc thếch mây trời lặng lẽ trôi...”. Cái thói đời tưởng chỉ có trong sâu thẳm đâu đó của cuộc đời nhưng nó lại hiện hữu trong mọi ngõ ngách của cuộc sống mà tác giả đau đáu với nỗi niềm không vơi về cái sự đời thường nhật vốn có ấy.

Mặc dù phải 15 năm sau tập thơ thứ ba anh mới cho xuất bản tiếp tập thơ thứ tư, chắc rằng anh cũng rất chỉn chu để lựa chọn những bài mới, cũ để trình làng. Nhưng theo tôi, giá anh biết chọn lựa một cách kỹ càng hơn về các bài thơ cùng một đề tài thì tập thơ sẽ hay hơn nhiều. Với tinh thần chất chứa những “nỗi niềm” riêng chung đó nên anh đã lựa chọn nhiều nỗi niềm riêng hơn nỗi buồn chung nên tập thơ có phần lễnh loãng đi ít nhiều. Giá như anh phát triển theo hướng cái nỗi niềm chung - cái nỗi niềm nhân thế ấy chắc chắn tập thơ thành công hơn nữa.

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc

.
.
.
.
.
.
.
.