Vũ Quang Ngọc - Thơ như là định mệnh

Chủ Nhật, 26/03/2017, 13:52 [GMT+7]
.
.

Tác giả Vũ Quang Ngọc sinh ra ở Cẩm Phả, từng là biên tập viên chương trình phát thanh công nghiệp mỏ sau chuyển về Hà Nội sinh sống và làm việc. Ông nghỉ hưu ngót nghét chục năm thì... làm thơ! Năm 2012, ông dè dặt gom ít bài trong sổ tay thời trai trẻ để trình làng tập thơ đầu tay. Rồi từ đó đến nay cứ mỗi năm trung bình ông in 1 đến 2 tập. Cuối năm 2016, nhân dịp ngành Than tổ chức kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống, ông đã cho in tập “Thơ và bạn thơ đất mỏ” dày gần 400 trang.

Trang bìa tập sách.
Trang bìa tập sách.

Biết ông từ thời anh em còn làm ở vùng than Cẩm Phả, song tôi thật sự bái phục sức lực của ông, đã qua 70 tuổi mà bệnh tật thì luôn đe doạ nhưng ông vẫn miệt mài, cặm cụi làm thơ, tìm sách của bạn bè để đọc, suy ngẫm và viết lời bình. Tập sách vừa xuất bản năm 2016 là tập thứ 12. 12 tập sách là điều mà ít ai làm được trong khoảng thời gian đó để sáng tác, để đọc, suy ngẫm và viết bình thơ.

Trong tập sách “Thơ và bạn thơ đất mỏ” (NXB Hội Nhà văn, 2016) ông cũng chia làm 2 phần thơ và lời bình. Ở phần sáng tác thơ thì ông vẫn chung thuỷ với đề tài về tình yêu đôi lứa, về gia đình, về bạn bè, quê hương đất nước với những câu thơ nhẹ nhàng cố gắng không lên gân. Ông chỉ ngân lên những dòng tự sự chân thật như: “Cẩm Phả quê tôi đã là thành phố/ thành phố của than/ thành phố của những người thợ mỏ...” (Thị xã vùng than) hoặc: “...Nắng đổ lửa trên các công trường/ đội trời chúng tôi khoan đất đá/ nổ mìn cho các mỏ lộ thiên/ xúc đất lấy hàng triệu tấn than...” (Chúng tôi người thợ nổ mìn).

Ai cũng biết nghề làm mỏ khắc nghiệt, lao động mệt nhọc thế nào, vì thế, thơ ông cũng trôi theo dòng cảm xúc đó. Ở một trạng thái khác: “Anh bảo trong lò tối/ sắc than sáng lung linh/ dưới âm u lòng đất/ nhớ đôi mắt long lanh...” (Quê mới). Câu chữ với Vũ Quang Ngọc hình như không quan trọng lắm, miễn ông yêu con người, vùng đất ấy và cứ thế nói những điều giản dị trong tim mình để dâng hiến cho vùng đất đó những thương yêu bằng chính thứ ngôn ngữ giản dị ấy. Ông viết về mỏ Mạo Khê, Cọc Sáu, Hà Lầm, về Trà Cổ, Minh Châu, Quan Lạn... Nhất là viết về mảnh đất nơi ông sinh ra: “Bây giờ không một bụi tre/ cánh cò trắng chẳng đi về sớm hôm/ làng tôi từ xã lên phường.../ với tôi phường vẫn là quê/ sau nhà mặt phố, vẫn nghề trồng rau...” (Hương quê).

Và ta chợt nhận ra, trong cái điều giản dị nhà thơ gửi gắm ấy là cả một trời kỷ niệm thuở ấu thơ với biết bao yêu thương bờ tre, mái rạ, với biết bao những bịn rịn khi xu thế công nghiệp hoá đã làm thay đổi diện mạo làng quê thân thương ấy. Hoặc một trạng thái mà chỉ người ở Vùng mỏ mới nhận ra, sau cái vỏ ngôn ngữ mộc mạc của Vũ Quang Ngọc là biết bao nỗi niềm của cư dân vùng mỏ một thời: “...Khi thợ mỏ chia việc/ bớt bữa ăn giữa ca/ là hòn than đau đớn/ thợ mỏ vẫn vượt qua...” (Những năm tháng ở mỏ). Ở Vùng mỏ có những thời điểm lịch sử như thế, ai đã từng sống qua thời điểm đó không khỏi nhói lòng khi đọc những câu thơ gan ruột này của Vũ Quang Ngọc. Những bài thơ, câu thơ ông chắt chiu viết ra cái cảm quan của một người yêu thơ bỏng cháy. Tình yêu về những vùng đất mình đã sống, về quê hương đất nước đều được ông bày tỏ như muốn reo vui cùng độc giả khi bước chân mình đã tới đó. Chính vì lẽ đó mà thơ ông bị dàn trải theo cảm xúc thuần tuý mà chưa đạt được độ sâu sắc, độ tinh của nghề. Nó dừng lại ở những cảm xúc chân thực bằng thơ như ông đã tự sự: “Dù biết rằng thơ của mình chưa mang được nhiều tính văn học...”.

Ở phần bình thơ của Vũ Quang Ngọc đúng là một phần lao động chữ nghĩa đắm say của ông. Ông gặp bài thơ hay, gặp tập thơ bạn bè tặng là thể nào cũng có bài viết ngay, dẫu rằng chỉ là những cảm nhận chân thành và mang cái chân chất của người thợ mỏ, nói thẳng, nói thật. Mỗi bài bình cho một bài thơ hay một tập thơ của ông đều là những cung bậc cảm xúc đồng điệu của ông và tác giả. Dù chỉ là những chấm phá, phác hoạ còn mỏng manh nhưng là cái tình của bạn thơ với nhau, cái tình của những người thợ mỏ với nhau không chỉ ở tầng than mà còn ở những trang thơ thấm đẫm tinh thần của những người thợ mỏ vô cùng chân tình.

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc

.
.
.
.
.
.
.
.