"Ánh đèn lò" - chuyện rất thật về người thợ mỏ

Chủ Nhật, 15/01/2017, 00:12 [GMT+7]
.
.

Sự trở lại của dòng tác phẩm phi hư cấu đã và đang được bạn đọc đón nhận với niềm say mê, thích thú. Tiểu thuyết “Ánh đèn lò” (NXB Lao động - 2016) của Vũ Thảo Ngọc cũng thuộc dòng tác phẩm như thế.

Vốn xuất thân từ công nhân mỏ than Cọc Sáu, nhà văn Vũ Thảo Ngọc viết văn ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước. Chỉ nhìn về khối lượng đồ sộ 19 ấn phẩm, trong đó có 6 tiểu thuyết, còn lại là truyện ngắn, bút ký và thơ đã ấn hành, đủ biết sức viết của Vũ Thảo Ngọc. Hầu hết các câu chuyện trong “Ánh đèn lò” đều mang tính hiện thực cao. Các sự kiện, các tình huống, không gian, thời gian, nhân vật đều có thật. “Ánh đèn lò” gồm 9 chương với 190 trang, tuy chưa phải là dày, nhưng cũng đủ để xuyên suốt cuộc đời của một người thợ mỏ.

Trang bìa tập tiểu thuyết của nhà văn Vũ Thảo Ngọc.
Trang bìa tập tiểu thuyết của nhà văn Vũ Thảo Ngọc.

Vũ Thảo Ngọc đã cùng ăn, cùng ở, cùng hít thở không khí của vùng than nên chị rất hiểu, rất am tường tâm tư, tình cảm và cả những khúc mắc trong cuộc sống đời thường của họ. Những chuyện đói khát, ăn mặc rách rưới, những chuyện tếu táo của thợ lò, tâm trạng buồn vui, ước mơ, khao khát, rồi sốt rét, bệnh tật... đều diễn ra tại đây. Thủ pháp viết “Ánh đèn lò” rất thật chỉ như là kể chuyện: Thì thầm kể, xót xa kể, quặn thắt kể. Chỉ kể mà dẫn dụ được người đọc đi từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng, không bỏ sách.

Vũ Thảo Ngọc kể về cuộc đời của “gã thợ lò” Đào Văn Đáo xuất thân từ “nhà quê nghèo”, nghèo đến mức thèm được bữa no dù là khoai hay là sắn cũng chẳng có. Nhà nghèo nên gã chẳng học hành gì. Được cái thông minh nhưng lại ương bướng, nghịch ngợm. Thế mà trời xui đất khiến thế nào gã lại gặp được kỹ sư Nam, rồi cùng kỹ sư Nam về công tác tại mỏ than Làng Bang. Tình cảm anh em, bè bạn, cấp trên, cấp dưới ngày càng sâu đậm, kể cả khi Nam đã là giám đốc mỏ và cao hơn nữa. Từ một công nhân học việc, Đáo đã trở thành “gã thợ mỏ” lúc nào không hay. Rồi công việc đào than đã làm đổi đời gã. Gã không còn ương bướng, nghịch ngợm như trước kia mà tính tình thay đổi hẳn. Gã cần cù, chịu khó, hòa nhã với mọi người, ngày đêm hết mình chăm lo cho công việc, được anh em xóm thợ tin yêu. Rồi cũng nhờ có gương than, nhờ ánh sáng của ngọn đèn lò đã soi đường cho gã đi đúng hướng. Bằng chính sức lực và trí tuệ của mình, Đáo đã từng bước đi lên. Từ thợ học việc, gã lên được chức tổ trưởng sản xuất, được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động”.

Trong tiểu thuyết “Ánh đèn lò” một hiện thực bày ra đến trần trụi, khó tin: Khu tập thể công nhân là những dãy nhà cấp bốn cũ nát, mỗi phòng kê bốn chiếc giường sắt. Đến khi Đáo cưới vợ, ba người trong phòng sơ tán, họ ghép hai giường sắt lại thành giường tân hôn cho đôi vợ chồng mới cưới.

Dưới ngòi bút của Vũ Thảo Ngọc, các gương mặt của những người thợ mỏ hiện lên rất độc sáng, đầy cá tính, không ai giống ai mỗi người một cá tính, mỗi người một cách sống, nhưng họ lại rất hòa đồng, thương yêu, đùm bọc nhau và sống chết có nhau.

Một ấn tượng khó quên khi đọc tiểu thuyết của Vũ Thảo Ngọc đó chính là hình tượng về đèn lò. Ai đã từng về vùng than thì mới thấy được giá trị của chiếc đèn lò. Ánh đèn lò đã cùng Đáo đi suốt cuộc đời làm thợ, gắn bó cả đời với vùng than. Rồi đến khi về hưu, Đào Văn Đáo lại thấy bâng khuâng nhớ: “Em thấy mình cũng bâng khuâng khi phải buông cây choòng, cái búa, cái cuốc, cái đèn lò, rồi đôi ủng, bộ quần áo bảo hộ, xa gương than, xa đường lò cũng tâm trạng lắm bác ạ!”.

Tiểu thuyết “Ánh đèn lò”, cũng có đôi chỗ tác giả chỉ bình luận lập lờ chừa chỗ trống cho người đọc cùng suy ngẫm. Gấp cuốn tiểu thuyết “Ánh đèn lò” lại, trong ta vẫn hiển hiện rõ nét một cuộc sống sôi động, mà ở đó người công nhân mỏ đang từng ngày, từng giờ vật lộn với hiểm nguy, khó khăn để sản xuất thật nhiều than cho Tổ quốc.

Vũ Thế Hùng (CTV)

.
.
.
.
.
.
.
.