Đọc sách

Ngôi sao thức - một tâm hồn thơ dung dị (Nhân đọc tập thơ Ngôi sao thức của tác giả Nguyễn Thanh Nga - NXB Văn học năm 2016)

Chủ Nhật, 25/12/2016, 13:21 [GMT+7]
.
.

Tôi đọc “Ngôi sao thức” của Nguyễn Thanh Nga và chợt phát hiện ra chị đã có những bứt phá mới về nghệ thuật làm thơ. Cùng với tư duy triết lý về cuộc sống là cách sử dụng ngôn từ mà chị đã dày công gọt giũa để dâng tặng cho bạn đọc một tập thơ dầy dặn về chữ nghĩa.

Trang bìa tập thơ.
Trang bìa tập thơ.

Cái tên “Ngôi sao thức” đã đánh thức người đọc một điều khám phá về thơ chị. Và ngay mở đầu tập thơ, chị đã khiến người đọc phải suy ngẫm về cách nhìn, cách cảm về cuộc sống tưởng hiển nhiên nó thế nhưng thực ra nó mang đầy tính triết luận từ những điều bình dị nhất: “Từ lúc chập chững biết đi/một chiếc kẹo bi có khi cả gói/... tôi vẫn thiên vị tay phải...” để rồi nhà thơ chợt nhận ra: “... Với chính bản thân mình/còn có những bất công”. Hoá ra, cái sự “bất công” ở đây không đơn giản như ta nghĩ, mà nó chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc để cho ta thêm yêu hơn cuộc sống dù ở đâu đó còn thua thiệt.

Và ở mạch cảm đó, Nguyễn Thanh Nga đã dẫn dụ người đọc theo cùng chị những “vỉa thơ” còn nhiều miền khai mở. Cách đặt tên các bài thơ của chị giản dị như cuộc sống của chị. Và nó phản ảnh đủ mọi trạng thái bồn chồn, thảng thốt, rồi vùng vằng đầy dỗi hờn để bật ra... thơ!  Nếu bình tâm lại, chị sẽ có những cái tên bài thơ khá hơn và từ đó tâm cảm dành cho các bài đó cũng sẽ khác. Chẳng hạn tên các bài thơ: “Bơ bải”, “Ăn may”, “Tập làm kẻ dở hơi”, “Bất tài ngay cả trong mơ”, “Tuột chất xám”, “Đám cưới linh hồn”... Và tôi chợt nhận ra, chị vẫn đang loay hoay “định vị” con đường thơ của mình. Khi đã tự định vị được thì những bài thơ đó theo tôi rất ổn, nhất là một chùm bài chị viết về thợ mỏ. Dù chị chỉ đi qua vùng thợ mỏ sống, quan sát đời sống của họ mà rung cảm của chị đã níu người thơ ở lại và làm nên những câu thơ khá gợi về người thợ mỏ: “...Em óng ánh dưới thảm băng chuyền/anh nhem nhuốc cho đời em rực sáng/...bởi mỗi bước chân anh là một vệt than em”.

Hoặc ở bài “Một nong tằm”: “Dòng nước sẫm đen/lòng người sẫm lại/ mỗi hòn than trôi/là vạc đi phần máu thịt của người thợ mỏ...”. Hoặc chị đã có những phát hiện mới về người thợ lò: “... Núi mang thai than/mỗi người thợ là một bà đỡ/cho bé than được sinh ra tung cánh khắp hương trời...” (Mối lương duyên). Chưa hẳn cả bài đã hay nhưng viết những người thợ mỏ với những rung cảm như thế thì thật quý lắm.

Và trở lại cách đặt tên bài thơ sẽ là sự logic giữa tên bài và nội dung bài thơ, chính vì sự loay hoay định vị kia mà chị đặt tên “Ngôi sao thức” cho tập thơ. Nhưng không phải bài thơ lấy tên tập đã là bài thơ hay. Vì mải  tìm tòi mà chị đã như để rơi vào trạng thái tên bài và nội dung bài thơ chẳng ăn nhập gì với nhau. Hoặc có thể tôi còn chưa giải mã được thơ chị, nhưng tôi cứ phân vân cách cảm, chất xúc tác nào đó dường như đã làm chị phân tâm nhiều lần. Và bài thơ này hoàn toàn có thể tách ra làm ba bài thơ với ba tâm trạng khác nhau.

Và tôi nhận thấy, Nguyễn Thanh Nga mê mẩn con đường thơ đến độ mộng mị, để rồi chỉ trong một bài thơ thôi nhưng các trạng huống khác nhau đã chen nhau xếp hàng để nhà thơ không thể bứt nổi ra làm chủ cảm xúc của mình được để có thể tự “cầm cương” mình để định vị thơ mình. Có lẽ đó là những ẩn ức chỉ riêng tác giả mới giải mã được. Sau những thao thức về quê cũ, về mẹ, với một rung cảm nhẹ nhàng và sâu sắc như: “Chiếc gậy gõ vào thành giường là con hiểu... Sẽ có ngày mẹ về với cha/cũng chỉ một đồng xu, không mang theo của nả.../suy nghĩ vu vơ lòng con đắng chát/còn tiếng cạch cạch ngày nào là chừng ấy con vui” (Cạch... cạch). Nội dung bài thơ chứa chất nhiều cảm xúc sâu nặng về tình mẹ con, nhưng cái tên bài thì... thật sự người viết bài này không thể cảm thông với tác giả vì cái sự tư duy đặt tên!

Tuy nhiên, khép tập thơ Ngôi sao thức lại, vẫn cho ta một cảm giác ấm áp, hồn hậu của một nữ nhà thơ đã sống ở nơi đầu sóng ngọn gió là vùng cửa biển Vân Đồn. Cái mạnh mẽ khí khái của vùng cửa biển ấy ít nhiều đã tác động đến đời sống tâm hồn thơ chị.

Nhà văn Vũ Thảo Ngọc

.
.
.
.
.
.
.
.