Sáng tác mới

Những bài thi dang dở - Truyện ngắn của Trần Ngọc Dương

Chủ Nhật, 27/11/2016, 00:51 [GMT+7]
.
.

LTS. Tác giả Trần Ngọc Dương là một thợ mỏ nghỉ hưu, cầm bút viết văn chưa lâu nhưng đã chiếm được cảm tình của rất nhiều bạn đọc nhờ lối diễn đạt dung dị, ấm áp tình người. Báo Quảng Ninh Cuối tuần số này xin trân trọng giới thiệu một truyện ngắn mới nhất của tác giả Trần Ngọc Dương.

Để chuẩn bị cho buổi lễ kỷ niệm ngày thành lập trường, Thuý được phân công vào bộ phận tiếp nhận những kỷ vật của các thế hệ học trò trao tặng. Nhiều cựu học sinh không kìm nén được xúc động khi trao kỷ vật, họ dặn đi dặn lại, đề nghị Thuý phải bảo quản cẩn thận. Vào ngày cuối cùng, lúc Thuý đang cắm cúi viết báo cáo đề xuất phương án sử dụng thì một giọng phụ nữ ngập ngừng hỏi:

- Thưa...ưa! Thưa cô giáo! Đây có phải là nơi tiếp nhận những kỷ vật cho ngày lễ thành lập trường?

Thuý ngẩng đầu đáp:

- Vâng!

Trước mặt Thuý là một người phụ nữ ăn vận cầu kỳ, bà thầm thì:

- Trong chiến tranh, căn phòng này đã hai lần bị sập.

- Cháu không được rõ?

Người đàn bà đưa tay chỉ vào nơi góc nhà:

- Cả hai lần máy bay ném bom, bàn của tôi đều kê ở chỗ ấy!

- Thế ạ?

- Hồi đó tôi nghịch lắm. Nhà vừa sửa xong, tôi đã lẻn trèo qua cửa sổ, in bàn chân của mình vào nền xi măng còn ướt. Đấy là ngày đầu học lớp năm - Bà giải thích - Dạo đó trường của mình là phổ thông liên cấp.

- Thế còn bận sau?

Người đàn bà chậm rãi:

“...Hôm đó, cả lớp đang chăm chú làm bài thi thử môn văn. Bất chợt từng hồi kẻng đổ dồn, rồi tiếng gầm rú của máy bay phản lực Mỹ vang lên. Theo phương án định trước, chúng tôi vơ vội mọi thứ trên bàn, tản theo các hào giao thông thoát ra ngoài. Có tiếng hét to - Máy bay bổ nhào rồi! - Mặt đất chao đảo, rồi tiếng bom nổ làm tôi chói óc, mảnh văng rít nghe rợn người. Làn sóng do sức ép xộc thẳng tới, mang theo mùi thuốc bom khét lẹt làm tôi ngạt thở. Người bạn gái bên cạnh tôi gục ngã, cánh tay phải bị mảnh bom tiện đứt, máu nhuộm hồng cả tờ giấy thi. Bàn tay bạn ấy vẫn còn cầm bút. Một cột khói bốc cao, mái trường thân yêu của chúng tôi không còn nữa. Trong đám khói bom đen ngòm có muôn vàn tờ giấy trắng bay chấp chới. Thầy giáo bế đứa học trò bị thương vừa được sơ cứu nói trong tiếng gầm rú của bầy phản lực: Các em nhìn xem, nó giống như muôn vàn tờ truyền đơn. Rồi đây, những tờ giấy này sẽ bay đến năm châu, tới mọi chân trời để tố cáo với toàn nhân loại: Tội ác của giặc Mỹ gây ra trên mảnh đất này! - Còn người bạn trai cạnh tôi lại bảo - Không! Đấy là những bàn tay vẫy gọi lương tri của cả loài người...”.

Câu chuyện làm Thuý xúc động nhưng do quá quen với những dòng hồi tưởng, Thuý bèn tìm cách hướng câu chuyện sang chủ đề chính:

- Thưa bác! Kỷ vật nhà trường được vinh hạnh đón nhận hôm nay là gì ạ?

Người đàn bà bừng tỉnh:

- Xin lỗi cô giáo, mải nói quá tôi quên mất công việc chính. Trong suốt cuộc đời mình, tôi luôn mang theo những kỷ vật này. Giờ xin trao lại cho nhà trường.

Người đàn bà mở chiếc cặp số:

- Lúc thầy bế bạn đi cấp cứu, có giao cho tôi nhiệm vụ: “Em là lớp trưởng, hãy thu hộ thầy toàn bộ bài thi hôm nay. Coi như lớp chúng ta đã hoàn thành bài thi này”.

- Thưa bác, có đủ không ạ?

- Thu được hết! Song tôi chưa kịp trao cho thầy. Vì mấy ngày sau, thầy lên đường nhập ngũ. Hôm chia tay thầy tâm sự với cả lớp: “Thầy chỉ có một ước mơ, suốt cuộc đời này được cầm cây bút và viên phấn đứng trên bục giảng, cùng những cô cậu học trò có tâm hồn trong trắng, khám phá những điều tốt đẹp trong kho tàng văn học của nhân loại. Nhưng các em thấy đấy: Kẻ thù của chúng ta không muốn vậy! Chúng định cướp đi ước mơ của thầy và nhuộm đen tâm hồn trong trắng của các em. Cũng như bao người Việt Nam khác, thầy đành tạm xa mơ ước riêng tư để trở thành người chiến sĩ. Lúc này đất nước đang rất cần những con người biết cầm súng, cầm gươm và thầy đã viết điều này vào một lá đơn - Bài tập làm văn của riêng thầy! - Trong số các bạn nam ở lớp ta, đã có người tình nguyện nhập ngũ. Bạn ấy lên đường rất vội, ra đi mà không kịp chào tạm biệt chúng ta - Thấy tôi còn ôm tập bài thi, thầy nói tiếp - Em hãy giữ hộ những bài tập làm văn này, đến ngày về thầy sẽ chấm. Thầy cười trêu chúng tôi - Các em cứ yên tâm, phần chưa kịp làm thầy không trừ điểm đâu”.

Thấy đôi mắt người phụ nữ đỏ hoe, Thuý đưa cho bà chiếc khăn mùi soa:

- Thế rồi sao hả bác?

- Sau đó trường được chuyển tới nơi sơ tán. Buổi thi hết cấp năm ấy vắng mặt một số bạn.

- Từ ngày đó đến nay, bác đã gặp lại thầy chưa?

- Thời gian sau ngày đất nước thống nhất, tôi có gặp một số bạn, được mọi người cho biết: Thầy đã hy sinh ngay cửa ngõ thành phố Sài Gòn. Thầy đã không cho tôi có cơ hội trao lại tập bài thi này. Còn anh ấy - người bạn thủa học trò - vẫn ở trong quân đội và mới lập gia đình. Vợ anh chính là cô bạn bị mảnh bom tiện đứt cánh tay hôm đó. Mãi tới lúc này tôi mới được các bạn đồng môn kể cho nghe mối tình của họ. Vậy mà ngày ấy, tôi đã nghĩ anh để ý đến mình. Thảo nào lúc nộp bài thi, anh nói: “Bạn xin lỗi thầy hộ, mình tưởng bài làm văn này sẽ không thu, nên đã lấy mặt sau tờ giấy còn trắng để viết một thứ khác, chẳng những thế mình còn ghi linh tinh vào cuối bài làm”. Tôi liếc xuống bài thi, lật nhanh trang sau thấy ở phần giấy trắng ít ỏi còn lại, có ghi đôi điều tâm sự riêng biệt. Hôm ấy, tôi đã đỏ mặt khi đọc những dòng chữ đó. Tờ giấy làm bài kiểm tra chỉ còn một nửa. Nửa tờ còn lại anh ấy đã dùng viết đơn, khai bù tuổi tình nguyện lên đường.

Thuý đưa cho người đàn bà cốc nước:

- Cháu mời bác!.

- Sau đó tôi ra nước ngoài học tập và gặp nhà tôi ở bên đó. Do đặc thù công việc, gia đình tôi phải sống xa Tổ quốc.  

- Sao bác biết có ngày hội trường?

Người đàn bà mở cặp, lấy ra một phong bì lớn trao cho Thuý:

- Khi được các bạn cùng lớp thông báo qua điện thoại. Tôi trở về nước và cầm theo những bài thi còn dang dở này.

Thuý nhẹ nhàng:

- Thưa bác! Theo nguyên tắc cháu phải kiểm tra, vào sổ và mời bác ký ở phần người đã trao hiện vật.

- Cô giáo cứ làm theo quy định.

Thuý rút mọi thứ trong phong bì để hết ra bàn. Trước mặt cô là những bài thi, với đủ loại chữ viết đã ngả màu theo năm tháng. Người đàn bà chọn đưa cho Thuý hai tờ giấy:

- Đây là bài thi của vợ chồng người bạn tôi vừa kể. Dạo đó chúng tôi viết bằng bút bơm mực tự pha lấy, chất lượng của chúng không được tốt như nhau, nhiều chỗ đã bị mờ. Cô giáo cứ xem, chỗ nào không rõ tôi có thể giải thích. Vì những năm tháng sống ở nước ngoài tôi đã đọc đi, đọc lại nhiều lần. Đọc đến thuộc lòng chúng. Bởi vì cứ mỗi lần như thế, tôi lại có cái cảm giác được gặp và trò chuyện với các bạn học cũ. Bài này bị dính máu, bị ố vàng, chữ nhoè nhoẹt không đọc được...

Thuý đọc bài thi của “anh ấy”.

Đề bài:

“Những người dân Việt Nam vốn cần cù, dũng cảm. Đôi  bàn tay của họ trong thời bình biết cầm bút, cầm cày, cầm cuốc nhưng khi đất nước có giặc ngoại xâm đều biết cầm súng, cầm gươm”.

Em có cảm nghĩ gì về nhận định trên?

Bài làm

“...Giờ đây, khi ngồi viết bài tập làm văn này bên khung cửa sổ, em đang nghe thấy tiếng của lá cây theo gió thì thầm. Những tiếng đó nói với em rằng: Đất nước mình là xứ sở của màu xanh. Chính những rừng cây nối đuôi nhau chạy dài vô tận, phủ kín mọi miền quê yêu dấu, đã làm nên màu xanh ngàn sắc Việt Nam. Em biết ơn đôi bàn tay chai sạm của những con người cần mẫn, chăm chút nâng niu từng mầm cây nho nhỏ cho đời. Họ giống như những người thợ dệt, đã dệt nên màu xanh trên thân hình đất nước. Hàng ngày, bưng bát cơm ăn em nhớ tới các bác nông dân, những người chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Một nắng, hai sương đổ mồ hôi trên ruộng đồng bắt đất đai sinh ra hạt lúa, củ khoai giống như người mẹ chắt chiu từng tia sữa nhỏ cho các bé thơ. Những trang sách đã dạy cho em biết yêu quê hương Tổ quốc. Em cám ơn những bàn tay cầm bút. Rồi câu chuyện mà mẹ em kể cho nghe từ thủa nằm nôi. Nào là: Chú bé lên ba đã biết nhổ tre đuổi giặc. Chuyện Sơn Tinh đánh giặc Thuỷ Tinh. Chuyện chàng trai tài đức Thạch Sanh. Cũng chính từ những câu chuyện ấy, đã làm nảy sinh trong em cảm tình cao quý, đối với đôi bàn tay của những người chiến sĩ...”.

Mắt Thuý nhoè đi trước những dòng chữ học trò, cô không thể nào đọc tiếp được, bèn bỏ kính lấy gấu áo lau. Thuý lật nhanh trang sau của bài viết, cô nhận ra những dòng tâm sự riêng biệt:

“...Bạn ơi! Chẳng nhẽ tuổi trẻ của chúng ta chỉ biết: Khoanh tay khóc trước những đau thương, rồi im lặng cùng tháng năm chờ đợi. Chắc tâm hồn của bạn cũng có lúc giống tôi: Chỉ biết mộng mơ cùng lá với hoa, lang thang đuổi bướm, bắt chim. Hoặc ngửa mặt nhìn bầu trời xanh để vơ vẩn cùng gió với mây và mong đạt được những niềm vui nho nhỏ. Chẳng nhẽ chúng ta không hề biết giận, biết căm? Giờ đây nếu có thể, mình muốn được làm một đám mây. Một đám mây nhỏ thôi, nhưng phải mang đầy sấm sét, giáng xuống đầu lũ giặc hung hăng. Mình cũng biết: Ước mơ cũng vẫn chỉ là ước mơ, nếu chúng ta không hành động, biến điều đó trở thành hiện thực. Lúc này, mình không thể nào nói được với bạn hết những điều trong lòng đang nghĩ. Ngày mai nếu chúng ta phải xa nhau, bạn nên biết một điều rằng: Dù đôi ta có ở hai phương trời xa thẳm, mình luôn luôn nghĩ tới bạn - Người mình yêu quý nhất trong cuộc đời này!”

T.N.D (Huỳnh Đăng giới thiệu)

.
.
.
.
.
.
.
.