Hồi âm biển... - Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Phú (Hội VHNT Hà Tĩnh)

Chủ Nhật, 20/11/2016, 19:00 [GMT+7]
.
.

Khách sạn Đại Dương mùa này biển vắng, ít người. Trời đã se se lạnh. Phòng của tôi ở gần phòng của hai bố con hoạ sĩ. Ông bố có mái tóc lượn, ốp dài đến ngang vai bềnh bồng trông rất nghệ sĩ. Đứa con có khuôn mặt đẹp như bức tượng nổi tiếng tôi đã từng xem đâu đó, đôi má bầu bĩnh, mái tóc xoăn trước trán toát lên một vẻ đẹp cổ điển. Nhiều lần tôi thấy chú bé làm mẫu cho bố vẽ. Những lần gặp nhau ở nhà ăn, chú bé chỉ nhìn tôi nhoẻn miệng cười. Hai bố con ngồi ở một bàn phía trong lặng lẽ như hai cái bóng. Ăn xong họ dắt tay nhau đi dạo chơi dọc biển.

Hỏi ra tôi mới biết cậu bé bị câm bẩm sinh. Hoạ sĩ kể: Khi sinh chú là một ca đẻ khó. Mẹ chú đã vật vã từ chiều đến nửa đêm vỡ ối mà cái thai vẫn không chịu ra. Bà Hiểu - bà mụ trong xóm đã dùng nhiều bí quyết gia truyền dân gian, nhưng chú bé vẫn bướng bỉnh nằm chặn ngang không quay đầu được. Hoạ sĩ ngước mắt lên bắt gặp cái tù và sừng trâu treo trên vách tường mà lần đi vẽ ở Tây Nguyên được một già làng tặng. Già làng bảo: Lúc nào con thấy bí bách trong người thì mang tù và của ta ra thổi sẽ có các vị thần linh, thần rừng giúp đỡ. Chiếc sừng trâu nước da đen bóng ấy đã lâu ông không dùng đến. Ông chỉ treo như một vật trang trí trong nhà. Hoạ sĩ bước ra ngoài sân và đưa tù và lên thổi. Tiếng tù và thoạt đầu nghe nghèn nghẹn thổi phù phù sau đó như được mở toang cánh cửa phát ra tiếng: Oa ... Sản phụ cố gồng mình cũng thét lên tiếng: Oa ... như một khao khát chờ tiếng khóc của đứa trẻ. Sau tiếng kêu thất thanh ấy, cái thai nhi bé bỏng được đẩy ra ngoài như có một lực co bóp mạnh từ phía trong. Bà Hiểu nâng chú bé trên tay và phát vào mông chú mấy cái với tiếng dỗ dành: “Khóc đi cháu - khóc đi nào”. Nhưng chú bé mắt vẫn nhắm nghiền, mặt tái mét không một tiếng khóc bật ra như những đứa bé bình thường khác. Mẹ chú mệt lả đuối sức dần, chỉ kịp trở mình giơ hai tay chới với như muốn ôm chú vào lòng và tắt thở. Chú bé lặng câm từ đó...

Nhiều buổi chiều khi thấy bố mang giá vẽ ra chú lặng lẽ đi theo đôi mắt chợt buồn nhìn xa vô vọng. Ngoài khơi những con sóng cứ vỗ vào bờ tha thiết. Đàn dã tràng gương đôi mắt đỏ nhìn nhức nhối khi gặp bước chân người lạ rào rào chạy trốn. Nhiều lúc tôi thấy chú bé thẫn thờ đi lại giữa khoảng trống vắng của dã tràng còn in những vết chân li ti ngoằn ngoèo trên cát rồi mất hút. Tôi tìm cách làm quen nhưng hình như chú bé lại tìm cách lẩn tránh. Dần dần chú lại gần tôi hơn khi biết tôi là một nhà thơ đang về thuê phòng để viết. Hình như chú nghe được tôi đọc thơ bởi những lần tôi uống rượu với bố chú rồi cao hứng đọc một khúc về biển với giọng hào sảng đắm đuối như sóng vỗ bờ da diết ngoài kia thì thấy ánh mắt của chú biểu cảm theo nhịp điệu của bài thơ. Hay là chú quan sát động tác của tôi và hiểu được phần nào nội dung bài thơ tôi đang đọc.

Tranh của hoạ sĩ vẽ ở biển nhưng phần lớn là tĩnh vật, những bình hoa, chùm quả, chiếc ghế... có vẻ thiêu thiếu cô đơn làm lệch hẳn cả một góc tranh. Và rất nhiều hình tù và, sừng trâu như một sự ám ảnh. Hình như chính sự yên tĩnh bình lặng của căn phòng cùng với sự dữ dội hoang dã của biển cả giữ cho ông một nỗi niềm canh cánh.

Một sớm, hoạ sĩ sang phòng tôi và nhờ tôi tìm cho ông một mẫu người ngư dân thổi tù và. Tôi vốn quen nhiều người đàn ông ở vùng biển này. Họ có thân hình gồ ghề, bắp tay, vồng ngực cuồn cuộn nhưng bắp chân thì hơi teo lại. Trong số thực khách hay uống rượu ở đây tôi để ý đến lão Hoá. Nghe nói lão sống một mình và rất khéo tay. Ngoài những ngày đi biển đến mùa mưa bão khi lên đất liền căn phòng nhỏ của lão thành một xưởng thủ công mỹ nghệ. Những chiếc ri đô làm bằng vỏ ốc nhỏ treo lên thật bắt mắt như nghe cả tiếng rì rào của sóng biển. Rồi những chiếc thuyền buồm được làm bằng vỏ ốc. Những cánh san hô được gắn kết thành những khu vườn hoa đá sặc sỡ sắc màu. Tôi cùng bố con hoạ sĩ như lạc vào một thế giới khác. Lão Hoá thổi hồn vào những vỏ ốc, vỏ sò, vỏ trai đã chết vào một linh hồn sống mới. Nước thời gian đánh bóng in cả dấu vân tay của lão. Chú bé tò mò và thích thú nâng trên tay những vỏ ốc tù và đủ các kiểu. Chú thổi nhưng không một âm thanh nào thoát ra. Có một sự bí ẩn về kỹ thuật nào đó chăng hay hơi thở của chú yếu? Nghe nói những người ở bộ lạc trong rừng họ có một ngôn ngữ riêng khi úp hai bàn tay rồi hú gọi để liên lạc với nhau.

Lão Hoá mời chúng tôi những chén rượu sóng sánh đựng trong những chiếc cốc làm bằng vỏ ốc. Lão bảo rượu tự nấu lấy ngâm với bào ngư, hải sâm mà mới nhấp môi đã rạo rực. Các đường gân mạch máu trong người tôi chảy râm ran. Biển thấm vào người lúc nào cứ lâng lâng, dào dạt rồi đầm đậm lan toả và nghiêng ngả lúc nào không hay. Hoạ sĩ cứ xuýt xoa, ông nói: Thấy cả con thuyền chìm vào trong đáy cốc. Từ hôm gặp lão Hoá chú bé như một con người khác hẳn. Chú chạy nhảy chân trần trên bãi cát, hai bàn tay giang rộng trước không gian bao la của đại dương như muốn khao khát một điều gì đó. Nhiều lần tôi bắt gặp chú bé và lão Hoá rủ rỉ với nhau. Thì ra lão đang kể những bí ẩn biển cả mà chỉ có riêng chú bé mới hiểu được qua tiếng rì rầm của Lão Hoá như tiếng sóng biển rì rầm ở ngoài kia...

Lão Hoá có biệt tài nghe được tiếng cá. Nhiều thuyền mời lão đi để “nghe cá”. Ra đến ngư trường, lão đã ngà ngà say, đánh một giấc ngủ sâu, ngáy rung cả sạp thuyền mặc ai làm gì xung quanh cũng không đánh thức lão được. Lão nằm nghiêng một tai áp vào mạn thuyền. Trong tiếng máy đẩy nổ giòn, thuyền xé sóng lướt đi trắng xoá, đột nhiên lão trở mình bật dậy như một cái lò xo rồi ngồi bất động. Các bạn thuyền phút giây ấy lặng phắc và chăm chú nhìn lão. Hình như các đường gân, múi thịt của lão cũng căng lên động đậy và cuộn như sợi neo siết chặt. Lão “khà” một tiếng thật to và thủng thẳng nói: “Ở làn Rạo này có cá”. Có lần tôi nghe đám ngư dân kể lão còn tinh mắt, những hôm đẹp trời biển lặng leo lên cột buồm căn cứ vào sắc màu đổi thay của nước biển dưới đó đoán được có làn cá gì. Lão bảo: Có khi muốn xác định chính xác phải nhảy xuống nước cách be thuyền khoảng nửa mét. Dưới nước, đôi tai thính nhạy của Lão có thể nghe được âm thanh truyền đi dăm cây số. Có cá hướng nào thì nước chảy mạnh theo hướng đó. Cá Sóc kêu cụp... cụp. Cá Sóc trắng kêu tọc... tọc. Cá Ngao vàng đuôi kêu lục đục... lục đục. Và để xác định rạn San hô cá ẩn dưới biển lão chỉ nghe tiếng rì rào biết đó là rạn thấp, còn rạn cao phát ra tiếng nổ lách tách liên tục như khi ta rang bắp.

Sắp đến ngày về, hoạ sĩ nhờ tôi mời lão Hoá làm mẫu để vẽ. Bức hình có chủ đề về lão ngư đang thổi tù và báo tin cho thuyền câu về tránh bão. Lão Hoá đánh một chiếc quần lửng may bằng vải buồm màu nâu. Thật lạ, lão chỉ thích mặc loại vải nhuộm củ nâu thô nhám này, vừa bền vừa như nghe được tiếng sột soạt của gió và hằn những nếp gấp màu muối của nước biển. Lão cởi trần vồng ngực đỏ au được nhuộm bằng hơi men rượu, mái tóc bạc như cước được dựng lên, lông mày của lão cũng bạc vị mặn của biển. Lão bảo muối chính là máu của đất, của biển. Lão là đứa con hoang bị biển bỏ rơi. Và mẹ biển cho lão cái tài ngửi được tiếng cá để tìm về bầu vú sữa của mẹ.

Ráng chiều hắt màu mỡ gà xuống biển. Hình như sắp có bão - lão bảo thế. Cơ thể của lão báo sự thay đổi của thời tiết. Hoạ sĩ căng toan chọn một vị trí ông ưng ý để có thể ánh sáng chéo góc tạo cho mẫu một hình khối đặc biệt. Lão Hoá chọn cái tù và lâu nay lão cất cẩn thận trong cái rương gỗ hình vuông chằn chặn bọc một lớp vải đỏ. Cái rương này ngày trước lão chuyên đựng dụng cụ câu cá, trong đó có ngăn ra nhiều ô đựng các loại cước và lưỡi câu, hòn chì to nhỏ khác nhau. Thật lạ không biết chiếc rương làm bằng gỗ gì mà không bao giờ mối mọt. Ở trên thuyền có thể đặt làm cái ghế để ngồi câu hàng giờ không mỏi. Rơi xuống nước, gỗ tự nhiên nở ra khít chặt lại các mối ngăn như được gắn một lớp keo nổi bềnh bồng thành cái phao cứu sinh khoác dây vào người thì đố sóng nào có thể đánh bật ra được. Trong đó chỉ cần chai nước khoáng, vài phong lương khô là đủ sống vài ngày trên biển khi bị lật thuyền.

Chiếc tù và của lão là vỏ một con ốc khá to nhưng lão để nguyên vẻ xù xì thô rám của nó. Chú bé khi bắt gặp chiếc vỏ ốc tù và thì thân hình bé nhỏ rung lên. Hình như có một sức hút nào đó truyền từ cái vỏ ốc sang người chú. Ráng chiều lấp lánh ánh bạc bắt với màu xà cừ của vỏ ốc tạo nên một gam màu phản quang rạng ngời hiếm thấy - hoạ sĩ bảo thế. Đôi tay lực lưỡng quen kéo neo, kéo lưới cuộn sóng của lão Hoá giơ cái tù và lên ngang tầm khuôn mặt đỏ au nhuộm rượu, nhuộm nắng, nhuộm biển để hoạ sĩ bắt đầu đưa những nét cọ tạo hình. Cả thân hình lão nhoài ra biển đứng bất động như một pho tượng đã đổ khuôn. Chú bé mở to đôi mắt thường ngày lặng buồn giờ sáng lên chấp chới, hai tay chú cũng giơ lên theo tư thế của lão Hoá. Hai bóng người, một già, một trẻ cùng kiểu dáng đổ xuống cát chiều mịn còn ấm nóng hơi người, hơi biển. Đôi mắt chú bé nhìn lão Hoá không chớp như có vẻ cầu khẩn điều gì đó. Hoạ sĩ mải mê vẽ, còn tôi như dán mắt vào từng cử chỉ bất thường của chú bé. Lão Hoá quay sang chú bé và mỉm cười. Đây là lần đầu tiên tôi thấy lão cười làm cho khuôn mặt rạng rỡ tươi trẻ lại mấy chục tuổi. Lão đưa tù và lên hít một hơi dài thổi căng lồng ngực. Tiếng tù và bật ra: “Oa, oa, oa...” vang vọng ngân xa như chưa bao giờ tôi được nghe thấy. Tiếng tù và xoắn lòng, xoắn ruột, xoắn những dòng âm thanh theo tiếng sóng vọng lại. Bất ngờ chú bé bật lên tiếng kêu hoà âm: “Oa, oa, oa...”. Hoạ sĩ sửng sốt đánh rơi cây bút lông và giơ hai tay giang rộng chạy lại ôm choàng lấy chú bé quay một vòng tròn giọng lắp bắp như nhíu lưỡi: “Con... con tôi nói được rồi” nước mắt ông trào ra. Cả hai bố con chạy ùa ra giang rộng vòng tay mình vào lòng biển cả. Tiếng tù và của lão Hoá vẫn không dứt: Oa... oa... oa. Tiếng sóng biển dội lại: Oa... oa... oa... Tiếng vọng biển khơi hoà vào những âm thanh như mới được vỡ ra từ chú bé: Ba ... ba ... ba ...

N.N.P

.
.
.
.
.
.
.
.